Gs Ðỗ Ðình Hồ

Hội Ðiều dưỡng

Hệ thống y tá điều dưỡng - kỹ thuật y học (YTÐD - KTYH) là một thành phần quan trọng của ngành y tế. Cán bộ y tế (CBYT) trong hệ thống này gồm y tá điều dưỡng (YTÐD), nữ hộ sinh (NHS), kỹ thuật viên (ktv), X quang, KTV gây mê, KTV vật lý trị liệu (VLTL), xét nghiệm viên (XNV)... Họ có những chức năng khác nhau trong công tác phòng và chữa bệnh.

- Y tá trước đây nay gọi là YTÐD nhằm nhấn mạnh vai trò mới của họ. Ðó là vai trò độc lập và chủ động trong việc chăm sóc bệnh nhân (chức năng độc lập). Nhưng họ vẫn có trách nhiệm thực hiện y lệnh của BS (chức năng phụ thuộc). Ðiều trị tốt mà chăm sóc kém thì bệnh nhân khó mà hồi phục tốt được, thậm chí có trường hợp diễn biến xấu đi. Do vai trò độc lập và chủ động trong chăm sóc mà trình độ YTÐD phải được nâng lên tương ứng với yêu cầu. Muốn thế phải đào tạo họ ở bậc đại học (cử nhân). Những nước tiên tiến còn đào tạo thạc sĩ (ThS) và tiến sĩ (TS) YTÐD; họ có cả phó giáo sư, giáo sư YTÐD. YTÐD trở thành một hệ thống trong ngành y tế. Họ có ngạch bậc riêng, trường riêng, người lãnh đạo là YTÐD. Ở nước ta, mỗi bệnh viện có phòng YTÐD và YTÐD trưởng bệnh viện, ở mỗi khoa có tổ YTÐD và có YTÐD trưởng khoa.

- Các bệnh viện phụ sản có phòng NHS và NHS trưởng bệnh viện, có NHS trưởng khoa... tương tự như hệ thống YTÐD ở các bệnh viện khác. Ở một số nước NHS là một chuyên khoa của YTÐD, họ đào tạo YTÐD hộ sinh có chức năng như YTÐD, nhưng làm ở các bệnh viện hoặc khoa phụ sản.

- KTV vật lý trị liệu thực hiện các kỹ thuật VLTL và hướng dẫn bệnh nhân tập luyện nhằm phục hồi các chức năng sinh lý của bệnh nhân. quan hệ của KTV VLTL với BS phục hồi chức năng cũng tương tự như quan hệ của YTÐD với BS điều trị.

- Các KTV tạo ảnh (KTV X quang; siêu âm...) thực hiện các kỹ thuật tạo ảnh đưa ra các hình ảnh (phim X quang, hình ảnh siêu âm, cắt lớp điện toán...) giúp BS chẩn đoán bệnh.

- Các GV xét nghiệm hay xét nghiệm viên (XNV) thực hiện các XN (hóa sinh, huyết học, vi sinh, ký sinh, giải phẫu bệnh lý, miễn dịch) trên máu, nước tiểu... để đưa ra những kết quả tin cậy giúp BS chẩn đoán và theo dõi kết quả điều trị cùng diễn biến bệnh lý.

- KTV gây mê hỗ trợ BS trong việc gây mê bệnh nhân được phẫu thuật.

Cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trang thiết bị kỹ thuật y tế có những thay đổi rất lớn và nhanh chóng. Do đó, cũng cần đào tạo những KTV có trình độ đại học.

Chúng ta có rất nhiều vấn đề phải làm đối với việc đào tạo YTÐD - KTV. Số liệu năm 1997 cho thấy có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa YTÐD -NHS và y BS: số YTÐD - NHS là 56.874, số Y sĩ: 48.459. số BS: 34.001, tỷ lệ YTÐD + NHS/ YBS 0,7 (rất thấp), tỷ lệ YTÐD + NHS/ YBS 1,7 (thấp). Số y sĩ quá nhiều nên nhiều đơn vị đã chuyển y sĩ sang làm công tác của YTÐD, KTV X quang, KTV gây mê, XNV. KTV - VLTL. Cũng có những YTÐD-NHS bị chuyển công tác tương tự. Như vậy cần có chương trình và kế hoạch đào tạo nhằm chuyển đổi bằng cho họ (mới chỉ có chương trình chuyển đổi bằng cho YS thành YTÐD). Mặt khác tỷ lệ sơ cấp còn rất cao (27.171 trong tổng số 67.077 YTÐD - KTV, chiếm 40,5%), nhiều người trong số họ đã và đang làm nhiệm vụ của trung cấp, do đó cần có chương trìnhvà kế hoạch thích đáng nâng cấp cho họ. Tỷ lệ YTÐD - KTV cử nhân cao đẳng (CNCÐ) đào tạo theo hình thức tại chức rất thấp (680/67.077 1%). Hơn nữa có nhiều bất hợp lý trong việc đào tạo này: học rất nặng (12 năm phổ thông + 2,5 YTÐD - KTYH trung cấp + công tác 3 năm + năm học tại chức, mỗi năm 5-5,5 tháng học tập trung tại trường đại học, tứ 20-22 tháng thực học, kết hợp nhiều thời gian tự học) mà chỉ nhận được bằng cử nhân cao đẳng (CNCÐ).

Cần ngưng đào tạo CNCÐ YTÐD - KTYH mà chuyển sang đào tạo cử nhân đại học dựa trên chương trình chính qui (đã có đối với YTÐD và KTV), đồng thời bổ túc thích đáng đối với các CNCÐ để họ đạt cử nhân đại học (CNÐH) có quyền học cao học.

Hiện ta đang đào tạo những khóa đầu tiên CNÐH chính qui dài hạn 4 năm tập trung, nhưng thiếu những giaó viên chuyên ngành YTÐD - KTYH, vì vậy một nhiệm vụ cấp bách quan trọng là đào tạo những giáo viên có trình độ cao học (thạc sĩ), mà ta lại chưa có chương trình và trình độ. Có thể tổ chức du học cao học tại chổ đối với những giáo viên là CNCÐ được bổ túc (thành CNÐH): Chương trình nước ngoài, giáo viên nước ngoài, học tại Việt Nam, bằng của nước ngoài.

Còn một loạt các vấn đề cần phải nghiên cứu giải quyết: đào tạo nha tá 1 năm (phụ tá chuyên môn cho nha sĩ), mở các lớp vệ tinh đào tạo tại chỗ Y tá điều dưỡng - Kỹ thuật trung cấp cho các tỉnh, KTV được chuyển đổi thành dược sĩ trung cấp, y sĩ răng trẻ em nâng cấp thành BS răng trẻ em cần cho nha học đường...

Các vấn đề nêu trên phản ánh tình hình không ổn định trong đào tạo và sử dụng YTÐD - KTV, đồng thời cho thấy nhu cầu tăng số lượng và đặc biệt là chất lượng YTÐD - KTV. Muốn vậy cần xây dựng chiến lược đào tạo YTÐD - KTYH việc này đòi hỏi phương pháp khoa học dựa vào tình hình thực tế (trình độ, khả năng của ta, trong đó có khả năng tài chánh), sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có sự phát triển của ngành y tế (sẽ có những nhu cầu mới) và sự hội nhập quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực (phải nghĩ đến sự tương đương và công nhận nhau về bằng cấp). Có 3 việc cần chú ý khi xây dựng chiến lược này.

Một là chuyên khoa hóa trong đào tạo. Bên cạnh việc đào tạo YTÐD - KTV đa khoa, cần phải đào tạo những chuyên khoa (thậm chí khoa sâu) tương ứng với các chuyên khoa của BS. Thí dụ đào tạo YTÐD tổng quát (như hiện nay), sau đó đào tạo họ thành những YTÐD chuyên khoa (hộ sinh, cộng đồng, nhi, bệnh tâm thần, phòng mổ, gây mê, truyền nhiễm...), Việc này đòi hỏi những thay đổi quan trọng về chương trình và phương thức đào tạo, đòi hỏi việc chuẩn bị ngay từ bây giờ (tìm hiểu kinh nghiệm của các nước, đào tạo chyên khoa cho một số giáo viên...) Chuyên khoa hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng.

Hai là sự đồng bộ trong đào tạo y học về số lượng (tỷ lệ cân đối giữa BS và YTÐD, chẳng hạn 1 BS ứng với 2-4 YTÐD...), về chất lượng (nâng cao trình độ YTÐD lên đại học phù hợp với vai trò độc lập và chủ động của họ trong chăm sóc bệnh nhân...), về chức năng (mỗi CBYT có chức năng riêng, đồng thời có chức năng phối hợp trong đội công tác).

Vì sự liên quan tới sức khỏe - vốn quí nhất của con người, nên cần đòi hỏi đối với chất lượng đào tạo CBYT, đặc biệt đối với BS. Cũng như đa số các nước tiên tiến và các nước khu vực, ta nên có hệ thống đào tạo riêng phản ánh tính đặc thù của ngành y tế. Chức năng của BS (tiến sĩ y học) là điều trị. BS là người chịu trách nhiệm cao nhất đối vơi sức khỏe và sinh mạng bệnh nhân. Vì vậy, việc đào tạo BS, kể từ khâu tuyển sinh, đòi hỏi chất lượng cao nhất. Cách đào tạo hiện nay vừa mất nhiều thì giờ, vừa chất lượng không cao. Có thể theo công thức sau: 12 năm phổ thông + 4 năm khoa học (đạt cử nhân khoa học, có thể đi làm hoặc dự thi tuyển sinh vào y) + 4 năm học y + 2 năm công tác thực tế và làm luận án trở thành tiến sĩ y khoa (bằng cao nhất), sau đó học thêm để trở thành chuyên gia (specialist), số năm tùy chuyên khoa (phẫu thuật, thần kinh, nhi, sản phụ, mắt...). Một số BS có thể theo chuyên khoa cận lâm sàng (vi sinh, ký sinh, hóa sinh...), nhưng là nhà bệnh lý hoặc nhà nghiên cứu về những chuyên khoa đó, chứ không phải làm chức năng của XNV như hiện nay. Muốn làm công tác y tế cộng đồng (YTCÐ) thì BS phải học lấy bằng thạc sĩ YTCÐ. Hệ thống YTCÐ đào tạo các CBYT chuyên về công tác YTCÐ (chăm sóc sức khỏe ban đầu...), không làm công tác điều trị. YTCÐ và YTÐD - KTYH nên theo công thức: trung học (12 + 2), cử nhân đại học (12 + 4), thạc sĩ (12 + 6), tiến sĩ (12 + 6 2, có luận án). Thạc sĩ và tiến sĩ được đào tạo với số lượng ít dành cho trường và các cơ sở lớn.

Các YTÐD - KTV chuyên khoa đưọc phân về các cơ sở chuyên khoa (có BS chuyên khoa). Cần giảng dạy phương thức hoạt động theo đội công tác cho mọi đối tượng: chức năng rõ ràng, trách nhiệm cá nhân cao, tinh thần hiệp đồng công tác tốt. Cần xác định nhu cầu thực sự để quyết định qui mô đào tạo và tỷ lệ giữa các loại CBYT.

Ba là sự điều chỉnh và sắp xếp lại các trường y tế. Ðây là một việc rất quan trọng đối với sự thực hiện các việc đã nêu nhằm nâng cao chất lượng và tăng số lượng YTÐD - KTV. Nhu cầu lớn nhất hiện nay vẫn là YTÐD - NHS, các trường hoặc trug tâm đào tạo của các tỉnh có thể giải quyết phần lớn. Cần có trường khu vực đào tạo thêm (ngoài YTÐD - NHS) đối tượng có nhu cầu thấp (như XNV) cho một số tỉnh. Cần có khoa YTÐD - KTYH trong trường đại học y đào tạo đa cấp, chủ yếu là cử nhân, một số lượng nhất định trung học (chú trọng chất lượng, áp dụng thí điểm những vấn đề mới), một ít sau đại học. Khoa này đào tạo giáo viên cho các trường hoặc trung tâm đào tạo tỉnh và trường khu vực. hai vấn đề rất quan trọng của các trường là bệnh viện thực hành và xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy, hai yếu tố quyết định chất lượng đào tạo.

Trên đây là một số ý kiến phác thảo. Muốn xây dựng chiến lược đào tạo YTÐD - KTYH thì cần có một nhóm người có trình độ, có tâm huyết tập trung một thời gian nhất định làm việc với tinh thần khẩn trương và khoa học.