Hẳn bạn sẽ có một mái tóc đen, dài, mượt mà, thơm ngát nếu bạn là người chăm chỉ dùng bồ kết và các loại lá như hương nhu, sả... để gội đầu. Vậy bạn có bao giờ thử tìm hiểu xem bồ kết, hương nhu, sả... còn có tác dụng nào khác? Liệu bồ kết và hương nhu có thể được sử dụng trong y học hay không

Bạn có tin rằng bồ kết có tác dụng chữa trúng phong, cấm khẩu, phong tê... Còn hương nhu thì có khả năng chữa cảm mạo, nhức đầu... và một số loại bệnh khác.

Bồ kết có tên khoa học là Gleditschia australis Hemsl. Người ta thường sử dụng quả bồ kết chín khô (còn gọi là tạo giác). Hạt bồ kết lấy ở quả bồ kết chín đã phơi hay sấy khô còn gọi là tạo giác tử. Gai bồ kết hái ở thân cây bồ kết, đem về phơi hay sấy khô còn gọi là tạo thích. Vào tháng 10-11, quả chín, hái về phơi khô. Khi mới hái quả có màu xanh hay hơi vàng, phơi và để lâu có màu đen bóng.






Gai bồ kết có thể thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào các tháng 9 đến tháng 3 năm sau; hái về phơi khô hoặc nhân lúc gai còn đang tươi, thái mỏng rồi mới phơi hay sấy khô.

Từ quả bồ kết, người ta đã chiết được 8 chất flavonoit và 7 hợp chất tritecpen: 5 trong số 8 hợp chất flavonoit đã được rút ra dưới dạng tinh khiết và xác định là luteolin, saponaretin, vitexin, homoorientin và orientin.

Tác dụng dược lý: Sơ bộ nghiên cứu tác dụng dược lý, người ta thấy rằng hỗn hợp flavonozit và chất saponaretin riêng biệt có hoạt tính chống siêu vi trùng; hỗn hợp saponin bồ kết có tác dụng đối với trùng roi âm đạo, hỗn hợp saponin và flavonoit có tác dụng giảm đau. ở Trung Quốc người ta đã dùng nước sắc bồ kết để trừ đờm.

Công dụng và liều dùng: Trong cuộc sống hàng ngày, người ta dùng nước bồ kết gội đầu; giặt quần áo lụa, len có màu không bị ố. Còn trong y học, ngoài việc dùng bồ kết làm nguyên liệu để chế chất saponin, bồ kết còn được dùng trong Đông y để chữa nhiều bệnh khác nhau.

Bồ kết: Theo các tài liệu cổ thì bồ kết (bỏ hạt, hoặc đốt ra than, hoặc tán nhỏ làm thành viên hay thuốc bột) có vị cay, mặn, tính ôn hơi có độc, vào 2 kinh phế và đại tràng. Có năng lực thông khiếu, tiêu đờm, sát trùng, làm cho hắt hơi dùng chủ yếu chữa trúng phong cấm khẩu phong tê, tiêu đồ ăn, đờm xuyễn thũng, sáng mắt, ích tinh. Liều dùng hàng ngày 0,5 đến 1g dưới dạng thuốc bột, hay đốt ra than mà dùng, hoặc thuốc sắc.Hạt bồ kết: Trong một số sách cổ nói hạt bồ kết vị cay, tính ôn, không độc, có tác dụng thông đại tiện, bí kết, chữa mụn nhọt: dùng với liều 5-10g dưới dạng thuốc sắc.

Gai bồ kết: Có vị cay, tính ôn, không độc. Chữa ác sang, tiêu ung độc, làm xuống sữa. Liều dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc.

Gần đây, người ta còn dùng bồ kết để thông khoan chữa bí đại tiện và không trung tiện được sau khi phẫu thuật, chữa tắc ruột và kết quả, có thể dùng cho cả trẻ em và người lớn, thường chỉ sau 5 phút là tháo phân ngay. Cách làm đơn giản như sau: lấy 1/4 quả bồ kết, nướng thật vàng, đừng nướng cháy quá hay còn sống, bỏ hột đi rồi tán thành bột nhỏ. Lấy canulơ, đầu có bôi vadơlin hay dầu, chấm vào bột bồ kết, sau đó cho vào hậu môn sâu độ 3-4cm; cứ thế làm 3-4 lần cho bột vào trong hậu môn, sau 2 đến 5 phút bệnh nhân đi ngoài được, có trường hợp hậu phẫu không trung tiện được 2 đến 5 ngày, bệnh nhân chướng bụng, bệnh nhân bí đại, trung tiện, nôn mửa liên tục có khi nôn ra máu mà làm như trên chỉ sau 2 phút trung tiện và đi ngoài được ngay, có bệnh nhân ra tới 500 con giun.

Đơn thuốc có bồ kết hiệu nghiệm:

- Thuốc chữa ho: bồ kết 1g, quế chi 1g, đại táo(táo đen) 4g, cam thảo 2g, sinh khương 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày.

- Chữa nhức răng, sâu răng: Quả bồ kết tán nhỏ, đắp vào chân răng, hễ chảy dãi thì nhổ đi.

- Chữa trẻ con chốc đầu, rụng tóc: Bồ kết đốt ra than, tán nhỏ rửa sạch vết chốc, rồi đắp than bồ kết lên.l Chữa đi lỵ lâu ngày: Hạt bồ kết sao vàng, tán nhỏ, dùng làm hồ nếp viên bằng hạt ngô. Ngày dùng 10 -20 viên, dùng nước chè đặc mà chiêu thuốc (nên uống vào buổi sáng sớm khỏi mất ngủ).

- Chữa phụ nữ sưng vú: Gai bồ kết thiêu tồn tính 40g, bạng phấn 4g. Hai vị đều tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 4g bột này.







Theo Báo Tổ Quốc
Bacsi.com