Kế thừa bài thuốc cổ phương cùng với việc vận dụng sáng tạo kinh nghiệm dân gian Việt Nam đã tạo ra phương thuốc trị ho hiệu quả.


Kế thừa và phát triển y học cổ truyền phương Đông


Là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, phương thuốc có lịch sử hơn 300 năm Xuyên bối tỳ bà cao cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị về mặt lí luận, quan điểm trị bệnh theo y học cổ truyền.

Theo các y văn cổ, Xuyên bối tỳ bà cao có xuất xứ từ triều đại nhà Thanh, Trung Hoa. Dân gian còn truyền tụng câu chuyện về một vị quan ở vùng đất Tứ Xuyên, nhờ có phương thuốc này đã chữa khỏi bệnh cho mẹ, khi bà mắc một chứng ho lạ, dòng dã nhiều tháng trời không khỏi. Tấm lòng hiếu thảo của vị quan huyện cùng phương thuốc trị ho quý đã lan truyền khắp dân gian. Xuyên bối tỳ bà cao được xem là “Cấp cứu phương” trong nhiều gia đình Trung Hoa thời xưa, được truyền tụng từ đời này sang đời khác.

Nhờ tính chất lịch sử, cũng như việc sử dụng rộng rãi trong nhân dân, khi khoa học phát triển, Bộ y tế Trung Quốc đã chỉ đạo các nhà chuyên môn nghiên cứu tác dụng của phương thuốc theo hướng hiện đại. Không ngoài mong đợi, tác dụng và hiệu quả của phương thuốc đã được chứng minh, phù hợp với cách sử dụng trong dân gian và y học cổ truyền. Sau đó, phương thuốc được chuẩn hóa và đưa vào Dược Điển Trung Quốc, làm cơ sở cho nhiều công ty Dược phẩm phát triển thành nhiều dạng thuốc ho khác nhau.

Xuyên bối tỳ bà cao kết hợp nhiều vị dược liệu theo nguyên lý của y học cổ truyền. Bố cục phương thuốc theo Quân – Thần – Tá – Sứ. Trong đó, vị Quân dược như Xuyên bối mẫu, đóng vai trò chủ đạo, quyết định công năng chính của phương thuốc. Vị này đắng, tính bình, dưỡng âm, thanh phế, làm tan được đờm tụ, trừ được nhiệt độc, hóa đàm, chỉ khái, chữa trị được các chứng phế ung, phế suy, ho lâu ngày, đờm đặc tanh hôi…Hỗ trợ tác dụng cho Quân dược có Thần dược như Tỳ bà diệp, có tác dụng thanh phế, hòa vị, giáng khí, hóa đờm. Các vị Tá dược, mỗi vị một tác dụng riêng đã làm phong phú thêm công dụng của phương thuốc: Sa sâm thanh phế, hóa đàm, chỉ khái. Cát cánh, bán hạ hóa đàm, trục đàm công hiệu. Phục linh và Ngũ vị tử bồi bổ tỳ vị, nhuận phế, hóa đàm. Phục linh lợi thủy, thẩm thấp, nhờ bổ thận âm mà chữa được chứng phế âm hư, phù hợp quan điểm thận thông thì phế thông. Gừng tươi, bạc hà có tác dụng kháng khuẩn. Trong đó, gừng tươi tính ấm giúp điều hòa tính vị, bạc hà có vị cay mát, dễ chịu. Qua lâu nhân giúp nhuận tràng, thông táo, giúp khí ở đại tràng lưu thông, tránh được khí nghịch lên mà gây thành ho. Viễn chí kích thích nhẹ niêm mạc hầu họng, bài tiết niêm dịch, giúp long đờm rất tốt. Khổ hạnh nhân trấn tĩnh nhẹ trung khu hô hấp giúp kiềm chế ho hiệu quả. Vị Sứ là Cam thảo giúp điều hòa vị thuốc, đồng thời có tác dụng long đờm, giảm ho.


Vận dụng sáng tạo kinh nghiệm dân gian Việt Nam

Để phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, sinh lý, bệnh học của người Việt Nam, phương thuốc Xuyên bối tỳ bà cao đã được bổ sung thêm một số vị thuốc trị ho theo kinh nghiệm dân gian, như Ô mai, Vỏ quýt, Mật ong.

Theo đông y, ô mai kích thích sinh tân dịch, liễm phế. Hải Thượng Lãn Ông quy ô mai vào bổ kim. Trong ngũ hành, phế thuộc kim. Vì vậy, ô mai sử dụng trong các chứng bệnh ở phế là đúng theo phương pháp biện chứng luận trị của đông y. Vỏ quýt chứa tinh dầu, có mùi thơm, giúp kháng khuẩn, chống viêm.

Còn mật ong là vị thuốc được sử dụng từ ngàn năm với nhiều công dụng như bồi dưỡng cơ thể, giúp ăn ngon, ngủ tốt, trừ ho, kháng khuẩn, mau lành vết thương…Hải Thượng Lãn Ông sử dụng mật ong trong nhiều phương thuốc chữa ho, có cả chữa ho lao, gọi là Cam lộ thần cao.

Sự kết hợp tối ưu các dược liệu trên trong thuốc ho Bảo Thanh sẽ giúp phát huy đồng thời công năng bổ phế, trừ ho, hóa đàm; điều trị hiệu quả các chứng ho do thay đổi thời tiết, ho do cảm lạnh, nhiễm lạnh, ho gió, ho khan, ho có đờm, nhất là ho dai dẳng lâu ngày không khỏi, ho tái đi tái lại nhiều lần.

nguồn dantri.com.vn
BACSI.com