Chỉ định :
Ðiều trị kết hợp:
Invirase được chỉ định kết hợp với zalcitabine (Hivid) và/hoặc zidovudine (Retrovir) để điều trị bệnh nhân ngưòi lớn đã dùng zidovudine khi bệnh(H)tiến triển với số lượng CD4 ≤ 300 tế bào/mm3 .
Ðối với bệnh nhân có thể dung nạp với liệu pháp kháng retrovirus bằng đồng đẳng nucléoside, nên kết hợp Invirase với zalcitabine và/hoặc zidovudine.
Ðiều trị riêng rẽ:
Invirase được chỉ định riêng rẽ cho bệnh nhân người lớn bệnh (H) tiến triển không thể dung nạp liệu pháp với các đồng đẳng nucléoside.

Chống chỉ định :
Chống chỉ định Invirase cho những bệnh nhân quá mẫn với saquinavir hay bất cứ thành phần nào của viên thuốc.

Thận trọng lúc dùng :
- Dùng cho trẻ em và người lớn tuổi: Tính an toàn và hiệu lực của Invirase ở trẻ em nhiễm (H) (nhỏ hơn 13 tuổi) không được xác định. Kinh nghiệm còn hạn chế đối với bệnh nhân là người già trên 60 tuổi.
- Suy gan: Trên những bệnh nhân suy gan từ nhẹ đến trung bình, việc dùng saquinavir không liên hệ với các dấu hiệu xét nghiệm. Sự gia tăng nồng độ saquinavir trong huyết tương có thể xảy ra ở những bệnh nhân suy gan nặng; tuy nhiên, những bệnh nhân này đã không được khảo sát và nên được điều trị cẩn thận.
- Suy thận: Trên những bệnh nhân suy thận từ nhẹ đến trung bình, việc dùng saquinavir không liên hệ với các dấu hiệu xét nghiệm. Không có số liệu dùng thuốc cho bệnh nhân suy thận với mức độ nặng hơn. Mặc dù saquinavir chỉ thanh thải một lượng nhỏ qua thận, nên theo dõi lâm sàng khi dùng Invirase cho những bệnh nhân suy thận.
- Thông tin cho bệnh nhân: Invirase không thể điều trị khỏi nhiễm (H)và bệnh nhân có thể tiếp tục mắc thêm những chứng bệnh đi kèm với tiến triển của nhiễm (H), bao gồm những nhiễm trùng cơ hội. Bệnh nhân cũng nên được khuyên rằng họ có thể bị các độc tính đi kèm theo những thuốc cùng phối hợp như zalcitabine và zidovudine.
- Lái xe và vận hành máy móc: Không biết được rằng Invirase có ảnh hưởng đến sự tập trung khi lái xe hay vận hành máy móc hay không.

LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai:
Không biết được rằng Invirase có an toàn khi sử dụng cho phụ nữ có thai hay không. Khảo sát trên thú vật thử nghiệm không cho thấy tác động có hại trực tiếp hay gián tiếp với sự phát triển của phôi hay thai nhi, đến quá trình sinh đẻ và tiến trình phát triển trong và sau khi sinh. Do các nghiên cứu về tính sinh sản trên thú vật không thể luôn luôn suy ra được cho người, nên cẩn thận khi kê toa Invirase cho phụ nữ có thai.
Lúc nuôi con bú:
Không biết được rằng saquinavir có tiết ra qua sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc được tiết ra qua sữa mẹ, và do khả năng có thể xảy ra tác dụng ngoại ý của saquinavir cho trẻ bú sữa mẹ, nên ngưng cho con bú khi điều trị bằng Invirase.

Tương tác thuốc :
Sử dụng đồng thời kétoconazole và saquinavir làm tăng nồng độ trong huyết tương của saquinavir mà không tăng thời gian bán hủy đào thải hay bất cứ thay đổi này trên tốc độ hấp thu.
Rifampicine đã cho thấy có làm giảm nồng độ trong saquinavir huyết tương đến 80%. Dùng rifampicine kết hợp với saquinavir có thể làm nồng độ saquinavir giảm xuống dưới nồng độ trị liệu. Do đó, bệnh nhân dùng đồng thời hai thuốc này nên kiểm soát cẩn thận sự giảm bớt đáp ứng với trị liệu. Khi xem xét chuyển hóa rộng rãi ở gan của saquinavir,sự dùng cùng lúc các hợp chất khác được biết là có khả năng gây cảm ứng men gan (như rifabutine, phénytọne, carbamazépine) có thể làm giảm nồng độ trong huyết thanh của saquinavir. Do đó, nên xem xét khả năng giảm hiệu lực Invirase khi dùng cùng lúc với các thuốc này.
Trong pha hấp thu saquinavir, nồng độ cao trước khi đi vào toàn thân của saquinavir có thể làm giảm hoạt tính của CYP3A4. Các hợp chất khác làm chất nền của CYP3A4 (như nifédipine và các thuốc ức chế kênh calci khác, clindamycin, terfenadine) có thể tương tranh với saquinavir trong sự chuyển hóa của chúng. Sự cạnh tranh này có thể làm gia tăng nồng độ trong huyết thanh của những thuốc này.
Bệnh nhân dùng saquinavir kết hợp với các thuốc như trên nên được kiểm soát các độc tính do các thuốc dùng đồng thời.

Tác dụng phụ
Saquinavir nói chung dung nạp tốt khi dùng riêng rẽ hay kết hợp với zalcitabine và/hoặc zidovudine. Thuốc không làm thay đổi hay cộng thêm độc tính của zalcitabine hay zidovudine khi phối hợp. Ða số các tai biến có hại liên quan đến Saquinavir thường nhẹ.
Tác dụng phụ thường gặp trong trị liệu riêng rẽ: Nổi ban, ngứa ngáy, đau cơ xương, đau cơ, nhức đầu, bệnh thần kinh ngoại biên, chóng mặt, tê cứng các chi, tiêu chảy, đau bụng, loét niêm mạc miệng, buồn nôn, đau bụng, viêm họng, suy nhược.
Các tác dụng ngoại ý thường gặp bổ sung thêm khi dùng phối hợp thuốc: Saquinavir và zalcitabine: dị cảm, mất ngủ, nôn mửa, viêm miệng, rối loạn cảm giác thèm ăn.
Saquinavir và zidovudine: bừng hỏa, thay đổi sắc tố, dị cảm, mất điều hòa, lú lẫn, khô miệng, sảng khoái, mất ngủ, dễ kích thích, buồn nôn, khó tiêu, táo bón, mất màu phân, viêm lưỡi, viêm thanh quản, rối loạn tiểu tiện, rối loạn cảm giác thèm ăn, khô mắt.
Saquinavir với zalcitabine và zidovudine: tăng đổ mồ hôi, dị cảm, lú lẫn, rối loạn thị giác, mất ngủ, giảm khả năng trí tuệ, dễ kích ứng, sảng khoái, khó tiêu, tổn thương niêm mạc, táo bón, ợ hơi, viêm lưỡi, viêm họng, khó thở,sốt, rối loạn cảm giác thèm ăn, thay đổi vị giác. Bất thường xét nghiệm đáng chú ý nhất khi dùng riêng rẽ và trong phối hợp thuốc với zalcitabine là gia tăng đơn độc CPK, giảm glucose và tăng giá trị transaminase. Khi kết hợp với zidovudine, cũng quan sát được chứng giảm bạch cầu trung tính. Nói chung, các bất thường xét nghiệm và tần số các bất thường này giống nhau trên Saquinavir và các kết hợp thuốc khác nhau. Tác dụng phụ trầm trọng được xem như có thể liên quan đến kết hợp thuốc với zalcitabine là viêm tụy và trầm cảm. Tỷ lệ bệnh thần kinh ngoại vi, độc tính chính đi kèm với zalcitabine cũng tương tự như khi dùng riêng rẽ zalcitabine. Zalcitabine cũng thường đi kèm theo chứng gan to trầm trọng và thoái hóa mỡ hay nhiễm acide lactique không thể lý giải. Không có trường hợp nào của chứng gan to trầm trọng với thoái hóa mỡ hay nhiễm acide lactique được quan sát thấy khi dùng kết hợp Saquinavir và zalcitabine.
Các tác dụng có hại trầm trọng nhưng hiếm gặp được đặc biệt quy cho việc điều trị Saquinavir quan sát được trên bệnh nhân dùng kết hợp Saquinavir và zidovudine là: bệnh bạch cầu nguyên tủy bào chẩn đoán được 2 tháng sau khi ngưng Saquinavir và chứng lú lẫn, mất điều hòa và yếu ớt.
Không có sự gia tăng mức độ các độc tính đã được xác định rõ ràng liên quan đến zidovudine hay zalcitabine như viêm cơ, các bất thường huyết học, viêm tụy, loét niêm mạc miệng hay bệnh thần kinh ngoại biên khi dùng Saquinavir phối hợp với zidovudine hay zalcitabine. Ðể nắm vững phác đồ điều chỉnh thuốc và tác dụng ngoại ý kèm theo đối với azlcitabine hay zidovudine, bác sĩ nên tham khảo thông tin đầy đủ về từng loại thuốc.
Các tác dụng ngoại ý trầm trọng sau đã được báo cáo trong quá trình thử nghiệm mù lâm sàng với Saquinavir và được xem như là có khả năng liên quan đến sự sử dụng của hợp chất này: thiếu máu huyết tán, có ý định tự tử do quá liều témazépam và amitriptyline, hội chứng Stevens-Johnson, động kinh, phản ứng da trầm trọng, đi kèm với các gia trị xét nghiệm chức năng gan gia tăng, tăng transaminase đơn độc, viêm tĩnh mạch huyết khối, nhức đầu, tổn thương gan với vàng da và tăng transaminase.

Liều lượng :
Ðiều trị kết hợp:
Phác đồ khuyến cáo cho điều trị kết hợp là 600mg Saquinavir ba lần mỗi ngày trong vòng 2 giờ sau khi ăn; mỗi lần dùng thuốc trong ngày nên dùng đồng thời với 0,75mg zalcitabine và/hoặc 200mg zidovudine (1800mg Saquinavir tổng cộng mỗi ngày, 2,25mg zalcitabine tổng cộng mỗi ngày và/hoặc 600mg zidovudine tổng cộng mỗi ngày).
Ðiều trị riêng rẽ: Phác đồ khuyến cáo trong trị liệu riêng rẽ ở bệnh nhân người lớn là 600mg Saquinavir ba lần mỗi ngày trong vòng 2 giờ sau bữa ăn (1800mg Saquinavir tổng cộng mỗi ngày).
Qúa liều :
Một bệnh nhân đã dùng quá liều Saquinavir khuyến cáo hàng ngày (1800mg mỗi ngày) khi dùng một lúc 8000mg. Người này đã được điều trị bằng cách gây nôn trong vòng 2 giờ sau khi uống và đã không thấy có di chứng gì. Trong một nghiên cứu thăm dò nhỏ, uống Saquinavir với liều 3600mg không cho thấy có gia tăng độc tính qua 16 tuần điều trị.