Điếc - nguyên nhân và cách điều trị


Điếc là một triệu chứng khá phổ biến của các bệnh về tai hoặc thần kinh. Theo thống kê, số người bị điếc chiếm tới gần 30% dân số, gây ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lực lao động cũng như chất lượng cuộc sống của họ.

Điếc được phân làm 3 loại là điếc dẫn truyền, điếc tiếp nhận và điếc hỗn hợp.

Điếc dẫn truyền

Điếc dẫn truyền hay gặp trong các bệnh lý của tai ngoài và tai giữa. Những bệnh tích ở tai ngoài như ráy tai, dị vật tai, dị tật tịt ống tai, nhọt ống tai, viêm ống tai ngoài. Bệnh tích của tai giữa như viêm tai xuất tiết, viêm tắc vòi tai - đường thông với họng mũi, viêm tai giữa cấp, viêm tai giữa mạn tính, viêm tai xương chũm, nguyên nhân chính gây điếc dẫn truyền là xơ nhĩ, đó là những bệnh tích sẹo do viêm tai giữa mạn tính mủ để lại sau khi lành.

Xơ nhĩ còn là giai đoạn cuối cùng của viêm tai mạn tính xuất tiết. Bệnh tích có thể khu trú ở màng nhĩ - bị thủng, bị dính vào thành trong, bị nhăn nhúm hoặc có những sẹo mỏng, những mảnh vôi hóa. Các xương con nằm trong tai giữa bị cố định, có các khối xơ cứng bao bọc. Trong những trường hợp này, bệnh nhân bị điếc là triệu chứng chính, điếc không hoàn toàn họ vẫn nghe rõ tiếng nói to, tiếng nói khẽ hoặc nói từ xa thì họ nghe xì xào không hiểu được lời nói. Mức độ điếc thay đổi theo thời gian, lúc nào bị ngạt mũi, sổ mũi thì càng nghe kém. Những bệnh nhân bị điếc do sẹo của màng nhĩ sẽ nghe rõ hơn khi tai bị viêm chảy dịch. Khi nói chuyện, người bị điếc tai giữa thường nói nhỏ vì họ nghe tiếng nói của bản thân vang ở trong tai.

Điếc tiếp nhận

Điếc tiếp nhận là loại tổn thương ở thành phần cấu tạo của tai trong như mê nhĩ, dây thần kinh thính giác (dây VIII), hoặc tổn thương thần kinh trung ương. Viêm mê nhĩ có thể gây ra do giang mai tai, thương hàn, quai bị, cúm... hoặc do nhiễm độc rượu, thuốc lá, thuốc quinin, streptomycin, cholesterol máu cao, acid uric máu cao, ure máu cao, đường máu cao, do vỡ mạch, co thắt mạch máu tai trong, do chấn thương, do dị ứng. Tổn thương thần kinh do viêm màng não, giang mai, do virut (zona), do u thần kinh... Tổn thương trung tâm thính giác ở vỏ não do u não, áp-xe não, thương tổn não ở vùng nhân tiếp nhận âm thanh, ở vỏ não.

Triệu chứng điếc thường xuất hiện đột ngột, tuy nhiên có một số trường hợp điếc xuất hiện từ từ nhưng dù sao vẫn diễn biến nhanh hơn điếc tai giữa. Mức độ điếc cao và thường đưa đến điếc hoàn toàn hoặc vĩnh viễn. Bệnh nhân xuất hiện ù tai tiếng kêu giống như tiếng dế kêu, còi rít hoặc chuông ngân. Hiện tượng chóng mặt có thể đi kèm với điếc nhưng không thường xuyên.

Điếc hỗn hợp

Điếc hỗn hợp nặng về tai giữa gồm xốp xơ tai, xơ mê nhĩ, lỏng khớp của chuỗi xương con. Điếc hỗn hợp nặng về tai trong gồm viêm tai khô do thể tạng.

Đặc điểm chung của điếc hỗn hợp là nghe tiếng trầm khó, mức độ nghe đường xương bị giảm nhẹ.

Một số loại điếc đặc biệt

Điếc do tiếng ồn: Tai có thể bị điếc bởi những tiếng ồn thật to và đột ngột như tiếng bom nổ, tiếng súng đại bác hoặc những tiếng ồn trên 80dB kéo dài nhiều tháng, nhiều năm như trong các nhà máy dệt, xưởng đóng tàu, bộ đội xe tăng thiết giáp...
Những âm thanh lớn làm rung chuyển lớp dịch tại tai trong có thể gây ra chảy máu mê nhĩ - một bộ phận của tai trong gây điếc vĩnh viễn hoặc chấn động ốc tai gây điếc.

Điếc do sang chấn trực tiếp: Do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, chiến tranh như mảnh kim khí, bom đạn gây ra vỡ xương đá (xương chứa bộ phận tai trong - tai giữa), chấn động mê nhĩ, sai các khớp xương con ở tai giữa. Trong vỡ xương đá, nếu đường vỡ đi ngang qua tai giữa bệnh nhân sẽ điếc dẫn truyền, nếu đường vỡ đi qua tai trong bệnh nhân chịu điếc tiếp nhận. Nếu điếc tiếp nhận mà tai vẫn còn nghe được chút ít nên để bệnh nhân đeo máy trợ thính, nếu điếc hoàn toàn có thể tiến hành phẫu thuật cấy điện cực ốc tai.

Điếc tuổi già: Thể điếc này có những đặc điểm sau: thính lực bắt đầu giảm ở tuổi 40, nhất là ở các tần số cao, mức độ điếc thay đổi theo từng cá nhân, bệnh nhân nghe tiếng nói thầm một cách bình thường nhưng tiếng nói thường lại không nghe rõ, nhất là ở những nơi đông người, ồn ào. Tuổi càng cao điếc càng tăng.

Điếc câm: Trong điếc câm, trẻ không nói được do không nghe được tiếng nói nên không bắt chước được. Nếu điếc xuất hiện trước 3 tuổi, trẻ sẽ không nói được. Nếu điếc xảy ra từ 4 - 8 tuổi, trẻ có thể nói dược một số từ. Điếc câm gồm có điếc câm bẩm sinh và điếc câm mắc phải.

Điếc nghề nghiệp: Điếc nghề nghiệp là một bệnh xảy ra ở những người sống và làm việc trong môi trường tiếng ồn trên 80 dB. Bệnh điếc nghề nghiệp luôn đứng đầu so với các bệnh nghề nghiệp khác chiếm 40%. Điếc nghề nghiệp tiến triển chậm, kéo dài hằng năm có khi hàng chục năm, tuy ngày càng nặng hơn nhưng rất âm ỉ nên thường bệnh nhân không biết.

Phương pháp chẩn đoán và cách điều trị điếc

Khám chức năng nghe để trả lời cho câu hỏi điếc hay không điếc? Điếc thuộc thể loại nào và mức độ điếc ra sao? Khám sơ bộ chức năng nghe bằng tiếng nói là cách khám đơn giản và thiết thực nhất được thực hiện ở mọi cơ sở y tế, do khám bằng cách này không đòi hỏi dụng cụ nhưng đánh giá được sự tiếp thu của tai đối với tiếng nói, điều kiện cần thiết cho sự tiếp xúc với xã hội. Khi khám phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Khám trong phòng yên tĩnh

Để người bệnh đứng gần tường, tai hướng về phía thầy thuốc, tuyệt đối không nhìn miệng thầy thuốc. Thầy thuốc thường đứng ở bên cạnh để bệnh nhân không nhìn thấy miệng đồng thời cho tiếng nói dội thẳng góc với màng nhĩ.

Tai đối diện phải được bịt lại

Nên bắt đầu bằng tai nghe rõ trước sau đó đến tai bị bệnh.
Tiếng nói thầm: Thầy thuốc đứng cách bệnh nhân 5m và bảo bệnh nhân nhắc lại những lời nói mà họ nghe được. Nên dùng hơi thừa trong phổi để phát âm tức là phải thở ra một cách bình thường rồi nói. Thầy thuốc bắt đầu bằng những câu đơn giản như: Ăn cơm chưa? Nhà ở đâu? Bao nhiêu tuổi?...
Nếu người bệnh không nghe thấy thì cứ bước lên 20cm cho đến khi nghe thấy. Chúng ta tính bằng cm khoảng cách từ chân thầy thuốc đến chân bệnh nhân. Tai bình thường có thể nghe được tiếng nói thầm ở khoảng cách 5m. Nếu chỉ nghe được ở khoảng cách dưới 50cm là điếc nhiều, họ không được phép tự lái các loại xe có động cơ.

Tiếng nói to: Chỉ dùng cho những trường hợp điếc nặng với tiếng nói thầm ở khoảng cách dưới 50cm, với khoảng cách bắt đầu khám là 10m và cũng thực hiện như cách nói thầm.
Tại các cơ sở chuyên khoa, khám sức nghe có thể được thực hiện rất hoàn chỉnh và đưa lại kết quả chính xác bằng âm thoa, thính lực kế, đo điện thế thân não, dùng thính lực lời.

Điều trị

Tùy thuộc vào nguyên nhân gây điếc mà có các phương pháp điều trị khác nhau:

Bệnh lý của ống tai ngoài: Nếu có ráy tai phải lấy ráy, lấy dị vật ống tai ngoài, điều trị viêm ống tai ngoài.

Bệnh lý của viêm tai giữa: Chỉ định phẫu thuật bệnh tích của tai giữa, vá lại phần màng nhĩ thủng hoặc tái tạo lại lớp đệm không khí của tai giữa, phục hồi lại các xương con bị tổn thương bằng các xương tự tạo.

Bệnh lý của tai trong rất khó hồi phục. Vấn đề thời gian rất quan trọng, nếu đó là tổn thương của các mạch máu vùng tai trong cần điều trị càng sớm càng tốt bằng thuốc giãn mạch, chống viêm và chống dị ứng. Phong bế thần kinh giao cảm quanh động mạch đốt sống cổ. Trong thời gian điều trị, bệnh nhân nên nghỉ ngơi khoảng 10 ngày tại nơi thoáng và yên tĩnh. Nếu ở bệnh nhân có kèm giang mai, đái tháo đường... phải điều trị tích cực các bệnh gây ra điếc này.

Nếu do u dây thần kinh số VIII phải phẫu thuật lấy bỏ khối u.
Máy trợ thính cũng là biện pháp tốt đối với những trường hợp điếc tai trong không có khả năng hồi phục. Máy trợ thính làm giảm mức độ của tiếng ù trong điếc tiếp nhận, làm cho bệnh nhân giao tiếp tốt hơn trong xã hội.

Với trường hợp điếc nặng, các biện pháp trên không có kết quả thì tập cho bệnh nhân cách nhìn mồm và đọc môi của người đối thoại.

Nếu điếc hoàn toàn có thể can thiệp bằng phương pháp cấy điện cực ốc tai. Phương pháp này hiện đang được áp dụng rộng rãi và đem lại hiệu quả cao cho những người điếc, đặc biệt là trẻ em điếc câm.

Điếc nghề nghiệp

Điếc nghề nghiệp trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn tiềm tàng kéo dài hằng năm hay lâu hơn, tiến triển rất chậm và âm ỉ nên không được lưu ý do chưa ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, mà trong môi trường tiếng ồn họ lại nghe rõ hơn nếu chú ý, họ sẽ thấy nghe tiếng nói thầm lại giảm đi, khi tiếp xúc họ nói chuyện to hơn bình thường. Giai đoạn này chỉ được phát hiện khi thăm khám chuyên khoa bằng đo thính lực. Giai đoạn rõ rệt: Bệnh nhân thường ngẫu nhiên nhận thấy mình không nghe thấy tiếng tích tắc của đồng hồ, nghe kém ngày càng nặng nên ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt. Giai đoạn này xuất hiện thêm tiếng ù rất khó chịu. Nếu phát hiện sớm ngay từ giai đoạn đầu nên chuyển môi trường làm việc và nghỉ ngơi. Giai đoạn sau phải kết hợp với sử dụng máy trợ thính.

Phòng bệnh: Đánh giá mức độ tiếng ồn trong môi trường làm việc để tìm cách giảm chúng tới mức an toàn. Bảo đảm sử dụng đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động. Lao động và nghỉ ngơi cho phù hợp để tái sản xuất và bảo vệ sức lao động.

Theo suckhoe.benhthan.com