Từ ngày thứ 25 sau khi thụ tinh, ở bào thai đã bắt đầu hình thành hệ tuần hoàn. Đến tuần thứ 8, quả tim đã được tạo ra hoàn chỉnh. Vì vậy, các tác động từ bên ngoài trong thời gian này đều có thể để lại những dị tật cho tim. Chú ý tới các triệu chứng của bệnh tim
Trẻ bị tim bẩm sinh là do gặp các dị tật của tim có từ khi trẻ còn nằm trong bào thai (google image
)

Tim bắt đầu hình thành là một ống đơn giản ở thời kỳ phôi thai trước khi có xuất hiện những thay đổi hết sức phức tạp, tinh vi hình thành nên các van cũng như các buồng và cuối cùng hình thành một chiếc bơm bốn ngăn hoàn hảo.

Tuy nhiên, rắc rối có thể xảy ra trong quá trình này – và một số trẻ khi sinh ra đã bị các dị tật về tim. Bệnh tim bẩm sinh (gọi tắt là CHD) thường đi kèm với chứng tái xanh, nhịp tim bất thường và chứng khó thở. Những triệu trứng này xảy ra do máu lưu thông ở tim hay ở các mạch quanh tim bị cản trở, hoặc khi máu lưu thông bất thường.

Trước những năm 1980, các dị tật ở tim thường được chẩn đoán khi bác sỹ nghe nhịp tim qua ống nghe, bởi vì giai đoạn tiếp theo của việc chẩn đoán – chụp mạch – gây tổn thương.

Do đó, nhiều người đã sống suốt quãng đời của họ mà không phát hiện rằng họ bị bệnh tim. Nếu trẻ bị ốm, theo lời khuyên của bác sĩ William Yip, một chuyên gia tim mạch nhi, không nên mua trà thảo dược để uống. Vì nếu làm vậy, bác sĩ rất nghe thấy tiếng ran của tim và sẽ khó khăn trong quá trình chẩn đoán bệnh.

Bệnh tim bẩm sinh không chỉ giới hạn đối với trẻ em

Một bệnh nhân ở tuổi làm bà phát hiện ra có một lỗ thủng ở tim. Theo bác sĩ Yip, người bệnh này sẽ vẫn duy trì được sự sống, tuy nhiên cơ thể sẽ không khỏe mạnh và gặp nhiều biến chứng khác.

Để phát hiện sớm bệnh tim ở trẻ, máy siêu âm tim (rất phát triển từ thập niên 80) đã cho phép đo chính xác nhịp tim bất thường gây ra bởi sự lưu thông máu không đều hay xác định bất kỳ bất thường nào khác của tim.

Tuy nhiên, với những tiến bộ hiện nay, ngành y học đã có thể thu nhỏ các thiết bị để đưa chúng qua các mạch máu tới tim.

Phương pháp điều trị thông thường

Các phương pháp điều trị thông thường đối với trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh tim là quan sát những trẻ bị các tổn thương nhẹ, cho uống thuốc để ngăn chặn suy tim và kiểm soát nhịp đập bất thường, cũng như thực hiện phẫu thuật tim mở khi cần thiết.

Và phương pháp điều trị dùng ống thông giúp giảm thiểu xâm lấn bởi vì các ống được sử dụng để tiếp cận với tim hiện nay có thể điều trị các tổn thương mà không cần mổ.

Bóng chặn

Bóng được sử dụng lần đầu vào cuối những năm 70 trong một thủ thuật gọi là đưa bóng qua động mạch để vá vách ngăn tâm nhĩ nhằm điều trị các tổn thương bẩm sinh được gọi là chuyển vị gốc động mạch.

Với tổn thương này, gốc động mạch - động mạch phổi mang máu nghèo ôxy từ tim tới phổi và động mạch chủ mang máu giàu ôxy từ tim tới các bộ phận còn lại của cơ thể - đảo ngược chiều lại. Do đó, phần lớn máu lưu thông từ phổi tới tim quay trở lại phổi. Các bộ phận còn lại của cơ thể nhận được rất ít máu giàu ôxy, và do đó trẻ trở nên xanh xao và tái nhợt.

Với phương pháp này, bác sỹ sẽ tạo ra một lỗ nhỏ giữa các ngăn trên của tim, do đó máu giàu ôxy có thể đi qua và tới được các bộ phận khác của cơ thể.

Trẻ em khi bị mắc bệnh này, tạo ra một lỗ nhỏ ở tim – mà đôi khi chính lỗ nhỏ này được coi là bệnh tim – có thể là hy vọng chính giúp trẻ sống sót.

Các dị dạng tắc nghẽn cũng có thể được điều trị bằng cách sử dụng bóng. Một số trẻ khi sinh ra đã xuất hiện các khe hẹp, có thể bị tắc một phần hay tắc hoàn toàn van tim, động mạch hay tĩnh mạch.

Ba trong số những bệnh máu lưu thông bị cản trở thường gặp nhất là tắc hẹp động mạch phổi và động mạch chủ ở van động mạch. Van động mạch này thường hình thành một cách bất thường và không thể mở và hẹp động mạch chủ.

Bác sỹ Yip cho biết chứng hẹp phổi đầu tiên được điều trị sử dụng bóng tạo hình van tim vào năm 1987. Một số trẻ có thể trở nên xanh xao nếu bệnh nghiêm trọng. Tuy nhiên những trẻ lớn hơn thường không có triệu chứng gì và chìa khóa duy nhất đó là tiếng ran tim bất thường.

Dựa trên cùng một nguyên tắc được sử dùng ngày nay để điều trị bệnh nhân bị nghẽn động mạch, các ống mềm gắn với các dây dẫn và một quả bóng được đưa vào mạch máu bẹn và được đưa lên tim.

Những gì xảy ra ở tim và các mạch máu xung quanh khi thực hiện phương pháp này được theo dõi qua máy chụp mạch. Bác sĩ đưa một ống thông vào và tiêm chất cản quang sao cho mạch máu có thể nhìn được qua tia xạ. Bằng cách này, các bác sĩ có thể chụp và quan sát mạch máu được trên màn hình.



(Ảnh : google image)


Đóng ống mở

Trẻ đẻ non thường bị mắc chứng còn ống động mạch (thường gọi tắt là PDA). Mạch máu trong bào thai nối hai động mạch lớn đi ra từ tim, động mạch phổi với động mạch chủ. Mạch máu này có trong tất cả các bào thai sao cho máu từ tim phải có thể đi qua phổi của bào thai. Phổi của bào thai chứa đầy dịch và không có không khí sau đó trực tiếp quay trở lại nhau thai.

Khi một đứa trẻ sơ sinh thực hiện hơi thở đầu tiên, không khí đi vào phổi và ống thường đóng trong vài giờ sao cho máu lưu thông theo một đường nhất định từ tim tới phổi và quay ngược trở lại tim, sau đó lưu thông khắp cơ thể.

Bác sỹ Yip nói “Khi ống không đóng, đây thực sự là một vấn đề bởi vì máu lưu thông từ động mạch lớn, có áp suất cao hơn, tới động mạch phổi.”

Điều này có nghĩa là phổi sẽ nhận được nhiều máu hơn. “Chứng xung huyết có thể gây ra suy tim hay áp suất ở phổi có thể lên rất cao và máu quay ngược trở lại, do đó người bệnh trở nên xanh xao”.

Nếu như trước đây, phẫu thuật là phương pháp duy nhất thì ngày nay rất nhiều thiết bị đã được tạo ra để đóng ống động mạch bị nghẽn.

Vá lỗ thủng ở tim

Một “lỗ thủng trong tim” chỉ đơn thuần là 1 lỗ thông ở thành tim ngăn cách giữa ngăn trái và ngăn phải tim. Tuy nhiên, nó có thể là lỗ thủng ở thành trên tim, thông liên nhĩ (gọi tắt là ASD), hay ở thành ngăn dưới, thông liên thất (gọi tắt là VSD).

Vị trí lỗ thủng chạy dọc theo một bên, ở giữa hay gần van tim sẽ quyết định phương pháp điều trị cho bệnh nhân. Bác sỹ Yip nói: “ Lỗ thủng ở tim không chỉ đơn thuần là một lỗ thủng, đó là một lỗ thủng cụ thể và nhất định”.

Trước hết, bác sĩ cần xác định xem có cần đóng lỗ thủng lại không và tiếp theo là việc đóng lỗ thủng này có thể được thực hiện an toàn không. Khoảng một nửa trong số các ca bệnh này có thể tự đóng lỗ thủng và một vài trường hợp có lỗ thủng nhỏ thì cũng không cần điều trị.

Vá lỗ thủng giúp ngăn máu lưu thông từ tâm nhĩ trái sang tâm nhĩ phải, do đó máu lưu thông tới phần còn lại của cơ thể sẽ không trở lại tâm nhĩ phải.

Đứa trẻ gần đây nhất mắc dị tật về tim thực hiện phương pháp đặt ống thông nhằm bịt lỗ thủng giữa các ngăn dưới – điều mà trước đây chỉ có thể được thực hiện bằng phương pháp phẫu thuật tim mở.

Lỗ thủng ở cơ của vách thất thường hoặc là nhỏ và không cần thực hiện đóng, hoặc là lớn và cần thực hiện phẫu thuật. Một lỗ thủng nằm phía dưới van động mạch chủ cần phải được bịt kín bằng việc phẫu thuật, vì khi nút thì chắc chắn van bị bịt kín. Một loại ống mới được cắm vào lỗ màng ngoại vi, vị trí lỗ thủng gần van nhưng không được sát cạnh với nó.

Thủ thuật dùng ống thông
Thủ thuật dùng ống thông nhằm chữa trị những dị tật bẩm sinh có rất nhiều ưu điểm; đó là: không gây sẹo sau khi mổ, bệnh nhân có thể trở về gia đình vào ngày hôm sau thay vì phải ở viện 4, 5 ngày như khi thực hiện phẫu thuật.

Bác sỹ Yip cho biết thời gian tiến hành phương pháp này đã được rút ngắn lại vì nhờ có kinh nghiệm, các bác sỹ hiện nay có thể thực hiện phương pháp này trong vòng 1 tiếng thay vì hai tiếng như trước đây.

Rẻ hơn so với phương pháp phẫu thuật tim mở, kỹ thuật mới nhất giúp chữa thông liên thất này chỉ có chi phí chỉ bằng 1/3 so với phương pháp phẫu thuật. Và rủi ro bị nhiễm khuẩn của phương pháp này cũng thấp hơn so với phương pháp phẫu thuật mở vì các cơ quan nội tạng bị phơi nhiễm với bên ngoài khi thực hiện phẫu thuật mở.


Theo TPO (bau.vn)
bacsi.com