Làm thế nào để phá bỏ rào cản trong việc nuôi con bằng sữa mẹ



(Medinet TP.HCM)- Trong khuyến cáo của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) về 10 bước nuôi con bằng sữa mẹ, bước thứ 6 khẳng định “Không cho trẻ sơ sinh ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì khác ngoài sữa mẹ trừ khi có chỉ định của bác sĩ”. Khuyến cáo là vậy nhưng có bao nhiêu bà mẹ ở Việt Nam thực hành thành công điều này?



“Những rào cản” khiến trẻ em Việt Nam không được bú mẹ hoàn toàn

Nhờ sự phát triển của các kênh truyền thông hiện nay, các bà mẹ đã tiếp cận được nhiều hơn với những thông tin bổ ích về chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trong đó có thông tin về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Tuy nhiên, theo số liệu cuộc Điều tra dinh dưỡng Quốc gia năm 2009, trong số 43% phụ nữ Việt Nam hiểu rõ sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng tuổi thì chỉ có 10% trẻ sơ sinh được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Điều gì đã tạo nên khoảng cách khác biệt này ?

Theo báo cáo của UNICEF, tại Việt Nam đang tồn tại một rào cản chung đối với việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, đó chính là nhận thức sai lầm cho rằng “bà mẹ chưa có sữa để có thể cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và không đủ lượng sữa để cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu” của cha mẹ và nhân viên y tế. Chính nhận thức này đã ngăn cản các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa của mình theo khuyến cáo của WHO. Tại một số trung tâm y tế, thậm chí ở một số bệnh viện lớn vẫn tồn tại thực trạng các bà mẹ đang mang thai hoặc sau khi sinh được nhân viên y tế khuyên nên cho trẻ bú thêm sữa bột. Đem theo sữa bột khi đưa thai phụ sắp sinh đến bệnh viện là một hình ảnh quen thuộc của các gia đình Việt Nam.

Quan niệm cho trẻ từ sau 2 tháng tuổi uống thêm nước lọc sau mỗi lần bú mẹ để “sạch miệng”, để “không bị đẹn” của các bà mẹ khiến trẻ bị no lâu, không bú được đủ số lượng sữa mẹ trẻ có thể và cần được bú. Ngoài ra, tâm lý e ngại trẻ bú mẹ không đủ no, sữa mẹ không đủ chất dinh dưỡng đã khiến nhiều bà mẹ chuyển sang cho trẻ dùng sữa công thức, cho trẻ bú sữa bột pha với nước cháo, hoặc cho trẻ ăn dặm ngay khi mới 4 tháng tuổi. Việc làm này vừa làm tiêu tốn kinh phí của các gia đình vừa tước mất đi nguồn dinh dưỡng quý báu của trẻ.

Một rào cản khác khiến các bà mẹ Việt Nam không thể nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu là chính sách nghỉ thai sản hiện nay. Theo quy định, phần lớn các bà mẹ đang đi làm chỉ được nghỉ 4 tháng sau khi sinh, do đó không thể duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ theo như khuyến cáo.

Đâu là giải pháp?


Trong số 10 bà mẹ đã từng cho con bú mẹ hoàn toàn trong những tháng đầu đời được hỏi, cả 10 bà mẹ đều khẳng định con họ có sức đề kháng rất tốt và ít bị sốt, ho,…như nhiều đứa trẻ khác. Có người cho con bú sữa mẹ hoàn toàn lâu nhất trong 12 tháng, ít nhất là trong 4 tháng rưỡi. Có người cho con bú trực tiếp nhưng cũng có người do phải đi làm nên vắt sữa mẹ để lại cho con bú trong ngày. Những thông tin trên thật ấn tượng và có thể là nguồn cổ vũ cho các bà mẹ khác thực hiện. Nhưng, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam làm được như 10 bà mẹ này và có bao nhiêu trẻ em Việt Nam có cơ hội đón nhận nguồn sữa mẹ trong những năm tháng đầu đời?

Để phá bỏ những rào cản của việc nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam, giúp trẻ em Việt Nam nhận được nguồn dinh dưỡng tối ưu từ những năm tháng đầu đời để trở thành những thế hệ khỏe mạnh, cao lớn thì ngay từ bây giờ, tất cả các tổ chức, ban ngành có liên quan và tất cả mọi người cần phải cùng chung tay hành động.

Về nhận thức của các nhân viên y tế và thực trạng sữa công thức vẫn tiếp tục tràn vào các bệnh viện phụ sản, có thể sử dụng sáng kiến” Bệnh viện Bạn hữu trẻ em” đã được đặt ra tại Việt Nam từ năm 1992 như một giải pháp để tháo gỡ. Đây là một sáng kiến của WHO/UNICEF nhằm khuyến khích các cơ sở sản khoa và nhi khoa tăng cường hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ. Các bệnh viện thực hiện đầy đủ 10 bước nuôi con bằng sữa mẹ thành công và không nhận các loại sản phẩm thay thế sữa mẹ và bình bú miễn phí hoặc được giảm giá sẽ được chứng nhận là Bệnh viên Bạn hữu trẻ em. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có 1% bệnh viện đa khoa, bệnh viện sản phụ khoa, bệnh viện nhi tuyến Trung ương và tuyến tỉnh được cấp chứng nhận này. Hy vọng với sự quan tâm và nỗ lực hành động của WHO/UNICEF cùng các tổ chức ở Việt Nam, tỉ lệ này sẽ ngày càng tăng lên.

Nguồn thông tin về lợi ích của sữa mẹ và hướng dẫn cách nuôi trẻ bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu hiện nay không thiếu, tuy nhiên, do thông tin không đồng bộ, không rộng khắp và thiếu tính lâu dài nên việc tiếp nhận kiến thức của mọi người về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, các tổ chức có liên quan cần đẩy mạnh làm tốt công tác truyền thông hơn nữa để mỗi bà mẹ và gia đình của họ, nhất là những bà mẹ khó có điều kiện dễ dàng tiếp cận thông tin ( hộ gia đình nghèo, vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa) đều có một nhận thức đúng và đủ trong việc nuôi con bằng sữa mẹ. Nhận thức đúng và đủ ở đây không chỉ dừng lại ở “ sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” mà phải làm sao để mỗi bà mẹ, mỗi người dân hiểu được “ Sữa mẹ là sức mạnh tốt nhất để bảo vệ cơ thể trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ khỏi một số bệnh lý, nhất là các bệnh về hô hấp và tiêu hóa trong những năm tháng đầu đời”. Có như thế thì mới phá bỏ được những quan niệm, hành vi, thói quen nuôi con không đúng. Bên cạnh đó cần cung cấp rộng rãi thông tin hướng dẫn chi tiết cách vắt sữa và bảo quản sữa mẹ.

Chính sách về chế độ thai sản ở Việt Nam được coi là một rào cản khó tháo gỡ trong thời gian một sớm một chiều. Như lời của TS.BS Lê Trường Giang- Phó GĐ Sở Y tế TP.HCM trao đổi với giới báo chí tại Hội thảo Tăng cường Nuôi con bằng sữa mẹ (tháng 07/2010), thì giới truyền thông cần phát huy nhiều hơn nữa tiếng nói và sự tác động của mình đến các cơ quan, tổ chức nhà nước để vấn đề này sớm được quan tâm, giải quyết. Nếu làm được điều đó thì tỉ lệ trẻ em Việt Nam được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu nhất định sẽ cao hơn con số 10% như hiện nay.


Huệ Anh