Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,214

    Unhappy Một số vấn đề thường gặp trong thai kỳ

    Một số vấn đề thường gặp trong thai kỳ


    ThS. BS Đặng Lê Dung Hạnh

    BV Hùng Vương, TPHCM

    Thai kỳ được chia làm 3 giai đoạn, gọi là tam kỳ hay tam cá nguyệt (mỗi 3 tháng / giai đoạn). Mỗi giai đoạn tương ứng một thời kỳ đặc biệt trong sự phát triển thai, cũng như có 1 số vấn đề tương ứng của bà mẹ.

    Ba tháng đầu thai kỳ vốn rất quan trọng. Đây là giai đoạn hình thành các hệ cơ quan của thai nhi, là giai đoạn thai nhi rất nhạy cảm với các yếu tố từ môi trường sống của mẹ, cũng như với những thuốc mẹ sử dụng nhằm nâng đỡ sức khoẻ hay điều trị bệnh. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn mà cơ thể mẹ có những biến đổi để phù hợp với tình trạng mang thai. Có một số bệnh lý thường gặp của thai kỳ trong giai đoạn này bao gồm tình trạng thai hành, dọa sảy thai và sảy thai, thai lưu, thai ngoài tử cu/ng, thai trứng.

    a.Thai hành: gần như xảy ra ở mọi thai phụ, mọi thai kỳ, tuỳ mức độ có thể nhẹ và không làm ảnh hưởng gì đến thai phụ, vừa phải và cần phải dùng một vài cách trị liệu, hay nặng tới mức cần nhập viện. Do tình trạng nội tiết có thay đổi, tình trạng chóng mặt, buồn nôn hay nôn, thay đổi ý thích ăn uống sẽ xảy ra trong vòng 3 tháng đều, sau đó tự thuyên giảm dần và hầu như biến mất do cơ thể bà mẹ đã quen với tình trạng nội tiết thai kỳ. Cũng do thay đổi hoạt động các cơ vùng tâm vị và tình trạng tăng tiết dịch vị, tình trạng nôn, trớ thức ăn, hay trào ngược thực quản rất dễ xảy ra, thường gặp nhất là cảm giác rát bỏng sau xương ức. Với những người đã có tiền căn đau dạ dày, tình trạng này cũng dễ trầm trọng thêm lên. Đó cũng là lý do có khá nhiều phụ nữ có thai giai đoạn đầu thường hay tự nghĩ đến đang bị bệnh lý dạ dày và đến với các chuyên khoa này để chữa trị. Những thuốc điều trị bệnh dạ dày đều có thể dùng an toàn cho thai phụ trừ một số thuốc ức chế tiết acid và một vài loại kháng sinh đặc hiệu. Có thể dùng một số loại giảm co thắt, chống nôn dạng kháng histamin, vitamin B6, bổ sung kim loại vi lượng (như Magne, mangan, kẽm …) để giảm tình trạng thai hành. Cách ăn uống được khuyên áp dụng là chia nhỏ bữa ăn, ăn nhiều lần với lượng ít, ăn những món ăn theo ý thích. Gừng đang được xem là một loại khá hiệu quả để giảm tình trạng ăn uống kém. Dịch truyền thực chất chỉ sử dụng khi tình trạng nôn ói quá nhiều gây mất nước và có khó khăn khi bù bằng cách uống. Dịch truyền dinh dưỡng (đạm hay chất béo) chỉ nên dùng khi quá suy kiệt, thực chất là cách điều trị khá đắt tiền và cần được theo dõi cẩn thận, có hiệu quả tâm lý nhiều hơn là điều trị.

    b.Doạ sảy thai và sảy thai với triệu chứng đầu tiên và cần có là xuất huyết âm đạo; đau bụng là triệu chứng báo động khả năng sảy thai (thường là cơn đau quặn thắt). Hơn 50% trường hợp sảy thai trong 2 tháng đầu là do nguyên nhân từ thai nhi, do bản thân thai nhi có bất thường và không thể tiếp tục phát triển. Có thể ở dạng trứng trống hay thai lưu (triệu chứng thường gặp: bụng nhỏ hơn tuổi thai, xuất huyết âm đạo ít và kéo dài, không thấy thai hành) rồi tự sảy sau đó. Với doạ sảy thai, việc nằm nghỉ ngơi và hạn chế vận động có hiệu quả nhiều hơn là thuốc điều trị. Các thuốc nội tiết an thai nên dùng cẩn thận, chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, vì có nguy cơ làm chậm sự tống xuất tự nhiên của những thai đã chết hay không phát triển.

    c.Thai trứng là tình trạng bất thường nhiễm sắc thể của thai và làm cho bánh nhau phát trêỉn quá mức và tích tụ nước (tạo thành những trứng co1 thể thấy bằng mắt thường). thai trứng thường sẽ có tình trạng thai hành quá mức, bụng to nhanh so với tuổi thai, có tình trạng xuất huyết âm đạo kéo dài và sẽ đi tới sảy thai trứng với tình trạng xuất huyết âm đạo ồ ạt nếu không được phát hiện và xử trí sớm. Không chỉ phải hút bỏ thai trứng mà còn cần phải theo dõi bà mẹ sau đó ít nhất là 6 tháng, tiếp đó, còn cần ngừa thai trong vòng 1-2 năm. Một số ít thai trứng có nguy cơ hay không được xử trí và theo dõi tốt có thể tiến triển thành ung thư nhau.

    d.Thai ngoài tử cung là tình trạng mang thai nhưng thai không phát triển trong lòng tử cung như bình thường mà phát triển bên ngoài tử cung, thường nhất là tại vòi trứng. VỚi vị trí bất thường này, thai chỉ phát triển tới một giai đoạn rồi sẽ làm vỡ cấu trúc mà nó bám vào và gây xuất huyết ồ ạt trong ổ bụng. Thường thai bám ở vòi trứng sẽ vỡ trong khoảng 6-8 tuần tuổi thai. Khi phát hiện sớm lúc thai chưa vỡ, có cách điều trị bảo tồn voì trứng cũng như lượng máu mất ít, không làm ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ và khả năng sinh sản của bà mẹ. Khi khối thai đã vỡ chỉ còn cách phẫu thuật cắt vòi trứng và cầm máu, thậm chí cần truêỳn bù máu nếu mất máu quá nhiều. Thai ngoài tử cung có thể do tình trạng viêm nhiễm trong ổ bụng của người mẹ, gây tắc hay thay đổi đường đi của vòi trứng.

    Trong tam kỳ này, tối thiểu nên có 1 lần khám thai, 1 lần siêu âm vào khoảng 10-12 tuần sẽ giúp phát hiện bất thường thai sớm. Khám thai lần này giúp xác định chính xác tuổi thai và cung cấp các thông tin dinh dưỡng, lối sống sinh hoạt, cách chăm sóc sức khỏe thai. Về ăn uống, vẫn ăn uống như bình thường, chú ý tăng chất lượng nhiều hơn số lượng thức ăn. Dùng thêm viên sắt bổ sung nhằm tránh thiếu máu do thiếu sắt, tăng lượng sắt dự trữ cho bà mẹ. Thai phụ có thể tăng 1-2kg hay không tăng cân.

  2. #2
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,214

    Mặc định

    Khi sang tam kỳ 2, từ khoảng tháng thứ 4-5, thai phụ đã cảm thấy dễ chịu. Tình trạng thai hành hầu như đã giảm, thai phụ đã có cảm giác ngon miệng và bắt đầu có tăng cân. Đây là khoảng thời gian thai khá thuận lợi cho thai và cho mẹ. Bụng bắt đầu to ra, có thể tự sờ thấy, cảm nhận cử động thai vào khoảng tháng thứ 4. Có một số tình trạng mà thai phụ cần lưu ý.

    a.Tình trạng đau lưng: có thể do tình trạng làm việc quá mức của các cơ vùng lưng. Thường tình trạng đau đều hai bên lưng, giảm nhiều sau một thời gian nằm nghỉ ngơi. Khi đau chỉ tập trung một bên vùng hông lưng, có thể kèm với sốt lạnh run hay có bất thường về nước tiểu (tiểu đục, tiểu nhiều. tiếu lắt nhắt), cần nghĩ đến nhiễm trùng tiểu. Cần phân biệt tình trạng tiểu nhiều lần do tình trạng bàng quang bị kích thích (vì bị tử cung chèn ép). Đó cũng là lý do tại sao phải thường xuyên thử nước tiểu trong lúc mang thai.

    b.Sảy thai vẫn có thể gặp (tuy gần như đã giảm nhiều so với 3 tháng đầu), thường do các ruỉ ro trong sinh hoạt thường ngày, và báo động bằng tình trạng ra máu âm đạo. Khi ra máu có kèm với đau bụng, khả năng giữ thai khá thấp. Có một dạng sảy thai to (thai 3-5tháng) hay sanh non (thai > 5 tháng) khá đặc biệt do nguyên nhân hở eo tử cung: đột ngột có cơn đau bụng và thai bị tống xuất nhanh chóng sau đó, thai sinh ra vẫn còn sống (nhưng sau đó sẽ chết vì quá non), tình trạng sảy thai (hay sanh non) sẽ lập lại nhiều lần sau đó nếu không được điều trị với tuổi thai ngày càng nhỏ dần. Nguyên nhân do cổ tử cung do bẩm sinh hay do tổn thương qua các thủ thuật (nạo thai, sảy thai, sanh khó) và không chiụ được áp lực buồng tử cung khi thai đã lớn. Để điều trị, các thai phụ sẽ được may cổ tử cung vào khoảng thai 3-4 tháng nhằm giúp cổ tử cung giữ kín cho tới khi thai đủ lớn.

    Thai cũng có thể bị mất trong bụng gây ra tình trạng thai lưu, có thể một cơn bệnh cấp tính của bà mẹ, hay do thai có vấn đề. Cần lưu ý tình trạng này khi thấy bụng không to thêm lên hay nhỏ hơn so với tuổi thai, hoặc không có cảm giác thai máy sau 4 tháng.

    Khi có ra máu âm đạo đỏ tươi, có thể khá nhiều và có hay không kèm đau bụng, cần lưu ý đến khả năng nhau đóng thấp. Thường tình trạng ra máu này sẽ hay tái diễn. Nhau đóng thấp có thể dần dần dời vị trí cao lên khi tử cung to ra hay vẫn tiếp tục ở vị trí thấp gần vùng cổ tử cung hình thành bệnh lý nhau tiền đạo (thường được chẩn đoán vào khoảng thai 7-8tháng). Điều trị chủ yếu bệnh lý này là nghỉ ngơi gần như tuyệt đối, thuốc giảm gò tử cung, thuốc cầm máu nhằm giữ không cho cơn gò tử cung xảy ra sẽ làm gia tăng ra máu và khả năng sanh non.

    Khi thai vào khoảng 5 tháng, bắt đầu có khả năng bệnh lý huyết áp và tiểu đường thai kỳ. Việc theo dõi huyết áp và nước tiểu khi khám thai là nhằm mục đích phát hiện các bệnh lý này. Nếu đã có tình trạng cao huyết áp trước mang thai, huyết áp sẽ biến động nhiều và sớm hơn. Cần lưu tâm khi có các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, phù nhiều (nhất là có cả phù vùng tay, mặt) và tăng cân quá mức (hơn 1kg/tuần).

    Thuốc sử dụng cho thai phụ không còn nghiêm nhặt như giai đoạn đầu, tuy vẫn cố gắng tránh những loại không cần thiết. Cần bổ sung nhiều năng lượng, nhiều chất bổ dưỡng vì đây là giai đoạn phát triển nhanh của thai. Có thể dùng thêm viên sắt và viên canxi bổ sung để tránh thiếu sắt và canxi, vốn rất thường gặp ở phụ nữ Việt nam. Thai phụ có thể tăng 1-2kg/tháng

    Thường vào khoảng 3 tháng giữa thai kỳ, thai phụ sẽ được khám thai 1 lần mỗi tháng (hay ít nhất có 2 lần khám thai), có 1 lần siêu âm để khảo sát bất thường thai. Các yếu tố khảo sát hay các xét nghiệm khi khám thai và khai báo của thai phụ về tình trạng sức khoẻ trước và trong khi mang thai đủ để bác sĩ nhận biết những nguy cơ bệnh lý cho mẹ và thai nhi.

    Các tháng cuối thai kỳ thường là giai đoạn nhiều mệt mỏi và căng thẳng. Trong giai đoạn này, thường bụng đã khá to, trọng lượng mẹ đã tăng khá đáng kể, người mẹ đã khá nặng nề trong sinh hoạt hàng ngày. Sự chờ đợi cũng như các kiêng khem sau một thời gian khá dài đôi khi cũng làm các bà mẹ khá căng thẳng, đặc biệt là với những bà mẹ có những bệnh lý mãn tính hay khi thai nhi có vấn đề phát hiện trong lúc khám thai.

    a.Tình trạng đau lưng: bắt đầu từ những tháng trước sẽ càng gia tăng, cũng do sự thay đổi tư thế cột sống nhằm giữ tư thế cân bằng kéo theo sự làm việc quá mức các cơ vùng thắt lưng. Mặt khác, tình trạng huy động canxi của mẹ cho thai, nếu không bù đủ canxi cho mẹ qua dinh dưỡng, có khả năng gây thiếu hụt xương và gây tình trạng đau xương, có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đau lưng.

    b.Sanh non có thể xảy ra do nhiều lý do: tai nạn trong sinh hoạt, cơn đau bụng do tử cung bị kích thích, do tình trạng nhiễm trùng màng ối … Một bệnh lý cấp tính của người mẹ cũng có thể là nguyên nhân khởi phát cơn đau chuyển dạ. Do đó, bên cạnh việc khám thai định kỳ, người mẹ không nên chủ quan với những biến đổi bất thường và nên đi khám bệnh ngay khi có những triệu chứng bệnh lý. Tình trạng viêm nhiễm sinh dục nên được điều trị tích cực vì nguy cơ nhiễm trùng màng ối, nên khai báo với bác sĩ khi có bất thường về huyết trắng hay những khó chiụ đường tiểu hay đường sinh dục.

    Khả năng bệnh lý huyết áp và tiểu đường thai kỳ bắt đầu từ tháng thứ năm trở đi, và thường rõ nét trong giai đoạn này. Do đó, trong khám thai, thường phải theo dõi cân nặng, huyết áp, nước tiểu và tình trạng phù. Trong các tháng cuối, chân có thể bị phù do bụng to chèn ép tĩnh mạch, tuy nhiên thường phù nhẹ vừa phải, tăng nhiều vào cuối ngày và giảm sau nằm nghỉ và không kèm tình trạng nước tiểu có đạm. Khi phù nhiều, có cả phù mặt và tay, nước tiểu ít hay bẩn, nhất là tăng quá 1kg/tuần nên nghi ngờ có phù bệnh lý liên quan đến bệnh lý thận hay tình trạng huyết áp.

    c.Tiền sản giật là bệnh lý thường gặp (và khá nguy hiểm nếu không được kiểm soát) bao gồm cao huyết áp, phù và tiểu đạm. Bệnh lý này gây nguy hiểm cho mẹ khi huyết áp cao không kiểm soát được có thể dẫn đến tình trạng co giật và hôn mê (sản giật ), có khả năng gây xuất huyết não. Bệnh cũng gây nguy hiểm cho thai: suy dinh dưỡng, chết thai hay sanh non. Điều trị chủ yếu là theo dõi huyết áp, phù và nồng độ đạm trong nước tiểu, sử dụng thuốc hạ áp khi huyết áp quá cao; khi có nguy cơ co giật cần nhập viện ngay, dùng một số thuốc đặc hiệu và có khi còn cần chấm dứt thai kỳ ngay để cưú mẹ.

    d.Bệnh lý tiểu đường thai kỳ là tình trạng tiểu đường chỉ xuất hiện trong thai kỳ và sẽ hết sau sanh. Bệnh lý làm cho mẹ tăng cân khá nhiều trong lúc mang thai, con có thể béo phì hay suy dinh dưỡng, nhưng thường là yếu ớt, có khả năng chết đột ngột trong lúc mang thai cũng như khả năng bị dị tật, bị một số bệnh lúc sơ sinh (vàng da sớm và nhiều, hạ đường huyết, nhiễm trùng sơ sinh …). Khi phát hiện có bệnh, mẹ sẽ được khuyên chế độ ăn thích hợp (ít bột, đường, tăng rau và đạm), nếu vẫn chưa ổn cần dùng thuốc để có nồng độ đường trong máu ổn định.

    Cũng có khi người mẹ nhập viện vì tình trạng ra máu âm đạo do nhau đóng thấp (nhau tiền đạo). Nhau, thay vì đóng ở đáy tử cung và sẽ bong ra sau khi đứa trẻ sinh ra; lúc này sẽ đóng ở gần hay ngay cổ tử cung, bị bong ra và gây chảy máu với các cử động của mẹ hay khi có các cơn gò tử cung (giai đoạn này có thể có các cơn gò nhẹ không gây đau bụng). Những thai kỳ này bắt buộc phải sanh mổ, đôi khi còn sanh mổ sớm do tình trạng mất máu của mẹ quá nhiều, không thể duy trì thai kỳ mặc dù con vẫn còn non tháng. Việc nạo – sảy thai nhiều lần, vết sẹo mổ tử cung (do mổ sanh, do bóc nhân xơ), u xơ tử cung hay dị dạng tử cung đều có thể gây ra nhau tiền đạo.

    Lịch khám thai trong khoảng này thường là 1 lần/tháng, và 1 lần/2 tuần trong tháng cuối. Một lần siêu âm trong khoảng 30-33 tuần có khả năng phát hiện một số bất thường thai xuất hiện muộn, tình trạng suy dinh dưỡng, vị trí bám của bánh nhau. Nếu cần, có thể thêm một lần siêu âm trong khoảng gần sanh nhằm đánh giá tình trạng bánh nhau và nước ối cũng như vị trí thai trong một số trường hợp bất thường. Từ khoảng 37 – 41 tuần là giai đoạn xảy ra chuyển dạ, nên nhập viện nếu có cơn đau chuyển dạ trước 37 tuần hay vẫn chưa sanh sau 41 tuần. Nên theo dõi tình trạng thai máy thường xuyên, vì đây là dấu hiệu chính cho biết thai còn khoẻ mạnh, đặc biệt vào tháng cuối thai kỳ.

    Ngoài ra, khi đi khám thai, còn có các xét nghiệm tìm các bệnh nhiễm trùng của mẹ như HIV, giang mai, viêm gan; mục đích nhằm phát hiện sớm tình trạng nhiễm bệnh của mẹ, để điều trị hết bệnh (giang mai) hay phòng ngừa biến chứng cho mẹ (viêm gan), phòng ngừa lây truyền cho con (HIV, viêm gan). Còn một số xét nghiệm khác, chỉ làm khi cần nhằm tìm bệnh của mẹ, của con.

    Khám thai thường xuyên, chính là cơ hội bà mẹ được chăm sóc sức khỏe, được thông tin về sức khỏe của con, về những điều nên và không nên khi mang thai, là cơ hội phát hiện sớm bất thường sức khỏe mẹ và con, nhằm có hướng xử trí kịp thời.

    Theo medinet.hochiminhcity.gov.com

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •