Kết quả 1 đến 14 của 14
  1. #1
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Talking Viêm dạ dày cấp nên biêt

    I. Đại cương

    Viêm dạ dày cấp là phản ứng viêm chỉ hạn chế ở niêm mạc, có đặc tính là khởi phát và diễn biến nhanh chóng do tác dụng của tác nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày. Đặc điếm lâm sàng của viêm dạ dày cấp là : xuất hiện nhanh, mất đi nhanh và không để lại di chứng.

    1. Nguyên nhân

    1.1. Yếu tố ngoại sinh thường gặp

    - Vi rút, vi khuẩn và độc tố của chúng.
    - Thức ăn : nóng quá, lạnh quá, cứng khó tiêu, nhai không kỹ hoặc bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc do tụ cầu, coli, rươu, chè, cà phê, mù tạc ...
    - Thuốc Aspirin, APC, Natrisalicylat, quinin, sulfamid, cortancyl, phenylbutazol, reserpin, digitalin, kháng sinh, KCL...
    - Các chất ăn mòn : muối kim loại nặng ( đồng, kẽm ), thuỷ ngân, kiềm, acid sulphuric, acid chlothydric Nitrat bạc ...
    - Các kích thích nhiệt, dị vật.

    1.2. Các yếu tố nội sinh

    Do các yếu tố nội sinh tràn vào máu gây ra viêm dạ dày cấp, gặp trong các bệnh sau :
    - Các bệnh nhiễm khuẩn cấp ( cúm, sởi, bạch cầu, thýõng hàn, viêm phổi ... viêm ruột thừa, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thoát vị hoành ...)
    - U rê máu cao, tăng thyroxin, tăng đýờng máu.
    - Bỏng, nhiễm phóng xạ ( 1.100r - 25000r ), các stress nặng, chấn thýõng sọ não, u não, sau phẫu thuật thần kinh, tim, shoc, bệnh tim, phổi cấp, xõ gan ...
    - Di ứng : thức ăn ( tôm, ốc, sò, hến ...)

    2. Giải phẫu bệnh

    - Tổn thương dạng viêm long : nổi bật là xung huyết, xuất huyết.
    - Tổn thương dạng trợt, loét cấp :
    + Tróc biểu mô mặt ở cổ tuyến.
    + Xuất huyết ở cổ tuyến.
    + Xuất huyết ở lamina propria của tuyến, lan toả.

    II. Triệu chứng

    1. Biểu hiện lâm sàng

    - Đau vùng thượng vị dữ dội, cồn cào, nóng rát, có khi âm ỉ, ậm ạch khó tiêu .
    - Buồn nôn, hoặc nôn nhiều, ăn xong nôn ngay, nôn hết thức ăn thì nôn ra dịch chua, có khi nôn cả ra máu.
    - Lưỡi bự, miệng hôi, sốt 39 -40 độ C.

    2. Xét nghiệm

    - Nội soi dạ dày :
    + Dạ dày có một phần hoặc toàn thể niêm mạc đỏ rực, bóng láng, có những đám nhầy dày hoặc mỏng, Các nếp niêm mạc phù nề, niêm mạc kém bền vững, dễ xuất huyết, vết chợt.
    + Trên nền xung huyết phù nề, có những chỗ mất tổ chức ( thường ở phần dưới thân vị, hanh vị ), đôi khi có vết nứt kẽ, dài, ngắn, ngoằn nghèo, chạy rọc các rãnh hoặc cắt ngang qua niêm mạc, đôi khi là dạng loét trợt ( aphte )loét dài hẹp.
    - Dịch vị : tăng tiết dịch, tăng toan, trong dịch có BC, tế bào mủ.
    - X quang : thấy hình ảnh nếp niêm mạc thô, ngoằn nghèo, bờ cong lớn nham nhở, túi hõi rộng.
    - Xét nghiệm máu : BC tăng, CTBC chuyển trái, máu lắng tăng.

    III. Chẩn đoán

    1. Chẩn đoán xác định

    * Dựa vào :
    - Lâm sàng : đau thượng vị đột ngột không theo chu kỳ, nóng rát.
    - X quang : không thấy hình loét, chỉ thấy niêm mạc thô.
    - Soi dạ dày và sinh thiết : thấy tổn thưõng niêm mạc ( đã nêu ở phần triệu chứng ).
    2. Chẩn đoán phân biệt

    - Viêm tụy cấp ( Amylaza máu và nước tiểu tăng cao )
    - Thủng dạ dày ( x quang bụng - thấy liềm hõi )
    - Viêm túi mật cấp ( sốt, sờ thấy túi mật to )
    - Cõn đau cấp của loét dạ dày - tá tràng ( X quang dạ dày có ổ loét ).

    IV. Tiến triển:

    Quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, hồi phục nhanh và hoàn toàn. Một số tác giả cho rằng từ viêm dạ dày cấp, nếu bị nhiều đợt có thể chuyển thành viêm mạn, vì niêm mạc bị phá huỷ liên tiếp và có vai trò của cõ chế miễn dịch.

    V. Điều trị

    1.Thuốc giảm đau chống co thắt cõ trơn:

    -Atropin 1/ 4 mg tiêm dýới da 1 ống/ lần x 2 – 3 lần/ ngày
    -Papaverrin ống 40 mg tiêm bắp 1ống/ lần x 3 – 4 lần/ ngày
    viên 40 mg uống 2 viên/ lần x 3 – 5 lần/ ngày
    -Hoặc các thuốc khác: Nospa, Spasmaverin…
    2.Thuốc trung hòa dịch vị, bảo vệ băng se niêm mạc dạ dày:

    -Phosphalugel 13 g dạng gói 1 gói/ lần x 2 – 3 lần/ ngày
    -Gastrofulgyte gói 3g 1gói/ lần x 3 lần/ ngày
    - Trymo 120mg x 4 viên chia 2 lần / 24 giờ. Hoặc
    - Noigel 12 g dạng gói 1 gói/ lần x 2 – 3 lần/ ngày
    3.Thuốc ức chế tiết axít:

    -Thuốc ức chế thụ thể H2
    +Cimetidin ( Tagamet ) viên 200 mg – 300 mg – 400 mg – 800 mg
    Liều dùng 800 mg – 1200 mg/ ngày, có thể uống 1 lần hoặc chia 2 lần. Dạng tiêm 200 mg 1 ống/ lần x 2 – 3 lần/ ngày.
    +Ranitidin ( Zantac ) viên 150 – 300 mg. Liều dùng 300 mg/ ngày, uống 1 lần hoặc chia 2 lần. ống tiêm 50 mg 1 ống/ lần x 2 – 3 lần/ ngày +Famotidin ( Pepcid, Pepcidin ) viên 20 – 40 mg. Liều dùng 40 mg/ ngày, uống 1 lần hoặc chia 2 lần. Dạng tiêm 1 ống 40 mg/ lần x 2 lần/ ngày.
    - Thuốc ức chế bõm proton ATPase
    + Omeprazol ( Losec, omez ) viên 20 mg. Liều dùng 40 mg/ ngày. Dạng tiêm 1 ống 40 mg/ lần x 1 – 2 lần/ ngày.
    +Lansoprazol viên 40 mg. Liều dùng 1 viên/ ngày.
    +Rabeprazol viên 10 – 20 mg. Liều dùng 1 – 2 viên/ ng.
    +Esomeprazol viên 40 mg. Liều 1 viên/ ngày.

    4.Điều trị các triệu chứng khác:

    + Hạ sốt :Paracetamol 500mg . Liều 2-4 v/Ngày.
    + Truyền dịch bù nýớc, điện giải nếu nôn nhiều
    +Truyền dịch, truyền màu nếu có XHTH gây tình trạng thiếu máu
    + Nếu Bệnh nhân dị ứng cho Dimedrol hoặc Pipolphen ống 25 mg tiêm bắp thịt 1 ống/ lần x 2 – 3 lần/ ngày.
    Lần sửa cuối bởi Nammap, ngày 23-07-2010 lúc 11:27 AM.

  2. #2
    minhduc2310's Avatar
    minhduc2310 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    1,302

    Mặc định

    Bệnh dạ dày nếu tiến triển lâu ngày có thể là nguy cơ dẫn tới ung thư nữa, việc điều trị nếu được thì nên diễn ra càng sớm càng tốt, thx bạn

  3. #3
    bac_si_map Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    709

    Mặc định

    Mình có người quen mắc bệnh dạ dày nhìn đúng là khổ sở luôn.Ăn thì kiên hết thứ này đến thứ khác mà nó vẫn đau.Tốt nhất là mình nên có một chế độ ăn uống và sinh hoạt thật hợp lý để được một cái dạ dày thật khỏe mạnh

  4. #4
    minhduc2310's Avatar
    minhduc2310 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    1,302

    Mặc định

    Không những thế, việc điều trị còn đòi hỏi phải kiên trì nữa, vì vậy những ai chưa bị tốt nhất nên tự tập cho mình một chế độ ăn hợp lý và đầy đủ để phòng bệnh hơn chữa bệnh .

  5. #5
    bacsi_quaidi Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    1,479

    Mặc định

    Viêm dạ dày là một bệnh lý tuy không ảnh hưởng cấp tính đến tính mang nhưng khi mắc phải thí rất khó chữa khỏi vì cai vòng luẩn quẩn bệnh lý của nó "lóet lành lại loét".Vì thế các bạn phải cảnh giác "phòng bệnh hơn chữa bệnh"
    Lần sửa cuối bởi Nammap, ngày 05-07-2010 lúc 01:59 PM.

  6. #6
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Mặc định

    Đúng đó,Đây là một căn bệnh tưởng chừng không có gì nguy hiểm nhưng khi mắc rất là khó chữa.Và điều tuyệt đối là phải tuân thủ đúng chế độ điều trị của bác sĩ và phải có một chế độ ăn hợp lý thì mới có thể hỏi bệnh được!

  7. #7
    bac_si_map Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    709

    Mặc định

    Ah các bạn ơi cho mình hỏi thêm giữa viêm dạ dày cấp với loét dạ dày khác nhau ở chỗ nào vậy

  8. #8
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Mặc định

    Viêm chỉ là phản ứng của niêm mạc dạ dày thôi còn loét là do tăng tiết dịch vị hoặc ăn những htức ăn quá chua làm cho niêm mạc dạ dày đã bị tổn thương

  9. #9
    Suckhoelavang Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    379

    Mặc định

    Bác sĩ ơi em co người nhà bị viêm dạ dày cấp.Xét nghiệm cho kết quả HP(+).Các bác sĩ điều trị bảo là có thể chữa khỏi đợt viêm,còn để điều trị tận gốc con vi khuẩn gì đó là rất khó!

    Các bác sĩ làm ơn cho em hỏi vai trò của con vi khuẩn đó trong viêm dạ dày và có thể tiêu diêt tận gốc nó được không?

  10. #10
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Mặc định

    Vai trò của HP trong viêm dạ dày:

    +H.Pylori (HP) là một xoắn khuẩn gam âm, thường gây bệnh mãn tính ở người như viêm dạ dày mãn tính. Nó cũng có vai trò trong loét dạ dày tá tràng và gần đây xác định được mối liên quan với ung thư dạ dày.

    +Ở các nước phát triển có mức sống cao, vệ sinh phòng bệnh tốt thì ước lượng có 20% người dưới 40 tuổi và 50% người trên 60 tuổi bị nhiễm HP, rất hiếm phát hiện trên trẻ em. Còn ở các nước đang phát triển thì phần lớn người lớn bị nhiễm và có 10% trẻ em từ 2-8 tuổi bị nhiễm HP.

    +Những người trên 45 tuổi nên xét nghiệm tìm H.Pylori khi: rối loạn tiêu hóa, giảm cân, xuất huyết, thiếu máu, khó nuốt. Ảnh: Tìm H.Pylori trong tá tràng. Điều đáng lưu ý là trong phân của tất cả người nhiễm đều có sự hiện diện của HP và 30% người nhiễm HP dạ dày trong mảng bám răng có sự hiện diện HP.

    +Một thông tin rất quan trọng nữa là trên chó và mèo người ta đã phân lập được Helicobacter Helmanii trong dạ dày, H. Helmanii cũng gây viêm dạ dày của chó mèo. H. Helmanii cũng đã được tìm thấy trên người bệnh, do đó người ta khuyến cáo không nên hôn chó mèo.

    +Ở bệnh nhân, HP xâm nhập tế bào niêm mạc dạ dày gây xâm nhiễm tế bào viêm đưa đến viêm dạ dày mãn tính. Trong phần lớn các trường hợp, HP không gây triệu chứng nhiễm khuẩn, nó chỉ làm tăng nguy cơ loét và ung thư tế bào tuyến dạ dày (vùng hang vị và thân dạ dày).

    +Vùng hang vị điều hòa tiết axit dạ dày thông qua việc tiết Gastrin (từ tế bào G) và somatostatin (tế bào D). Cùng với các yếu tố nguy cơ khác như: cơ địa người bệnh, môi trường, giới tính, gen, chế độ ăn, thuốc lá, … HP làm tăng lên nguy cơ bệnh.

    +Chẩn đoán HP hiện nay có 2 phương pháp: xâm lấn và không xâm lấn. Phương pháp xâm lấn là phải nội soi dạ dày- tá tràng, qua đó người ta lấy một mẫu mô của dạ dày đem thử xem có HP không? Thử mô học (giải phẫu bệnh) giúp xác định loét và loại trừ bệnh lý ác tính của dạ dày.

    +Phương pháp không xâm lấn có 3 xét nghiệm thông dụng, bạn thở vào trong một dụng cụ, qua đó xác định xem có nhiễm HP hoặc xét nghiệm máu tìm kháng thể IgG chống HP hoặc tìm kháng nguyên HP trong phân.

    Điều trị nhiễm H.Pylori

    +Tiêu diệt HP là mục tiêu quan trọng ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng, giảm được giá thành điều trị và giảm nguy cơ tái phát bệnh.

    +Chỉ định điều trị diệt HP được đặt ra với tất cả bệnh nhân loét dạ dày- tá tràng có xét nghiệm HP (+), viêm dạ dày mãn. Không được chỉ định khi xét nghiệm có nhiễm HP nhưng không có loét dạ dày tá tràng, tuy nhiên nếu bệnh nhân có tiền sử gia đình bị ung thư dạ dày thì phải dùng thuốc.
    +Và theo mình được biết là hiện nay có thể điều trị tận gốc tác nhân Helicobacteria Pylory nếu tuân thủ đúng chế độ diều trị của bác sĩ

  11. #11
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Mặc định

    Xin bổ sung thêm một vài ý như sau:

    Viêm dạ dày, thuật ngữ được dùng rộng rãi nhưng ý nghĩa của nó vẫn chưa được dùng chính xác.

    Với nhà nội soi, trước tiên nó gợi ra khi có một biến đổi về màu sắc niêm mạc, với nhà điện quang đó là khi có sự biến đổi nếp niêm mạc dạ dày. Sinh thiết dạ dày cho phép nói lên thuật ngữ chính xác của nó là viêm dạ dày, đặc biệt là viêm niêm mạc dạ dày. Hiện nay, căn cứ vào giải phẫu bệnh chia làm hai loại viêm dạ dày cấp và viêm dạ dày mạn. Trong đó viêm dạ dày cấp được hiểu là phản ứng viêm chỉ hạn chế ở niêm mạc, có đặc tính khởi phát và diễn biến nhanh chóng do tác dụng của các tác nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày.


    Nguyên nhân nào gây nên viêm dạ dày cấp?


    Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp có nhiều, song có thể xếp vào hai nhóm chính:

    Yếu tố ngoại sinh thường gặp: Vi khuẩn, virut và độc tố của chúng; Thức ăn nóng quá, lạnh quá, khó tiêu, nhai không kỹ hoặc bị nhiễm khuẩn nhiễm độc do tụ cầu, coli, rượu, chè, cà phê, mù tạt...; Thuốc: aspirin, APC, natri salicylat, sulfamid, corntancyl, phenylbutazon, reserpin, digitalis, KCl...; Các chất ăn mòn: muối, kim loại nặng (đồng, kẽm), thủy ngân, kiềm, acid sulfuric, acid chlohydric, nitrat bạc; Các kích thích nhiệt, dị vật...

    Các yếu tố nội sinh: Gặp trong các bệnh sau: Các bệnh nhiễm khuẩn cấp (cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn, viêm phổi, viêm ruột thừa..., tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thoát vị hoành); U rê máu cao, tăng thyroxin, tăng đường máu; Bỏng, nhiễm phóng xạ, các stress nặng, chấn thương sọ não, u não, sau phẫu thuật thần kinh, tim, shock, bệnh tim phổi cấp, xơ gan; Dị ứng thức ăn: tôm, sò, ốc, hến...

    Viêm dạ dày cấp biểu hiện như thế nào?

    Tổn thương trong viêm dạ dày cấp có thể khu trú hoặc lan tỏa, tùy theo mức độ nặng nhẹ và nguyên nhân thường chia làm 4 dạng chính, với các biểu hiện lâm sàng khác nhau:

    Viêm long dạ dày: Thường xảy ra sau khi ăn phải chất kích ứng, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virut. Tổn thương biểu hiện bằng tình trạng niêm mạc phù nề sung huyết và có nhiều đám viêm xâm nhiễm bởi bạch cầu đa nhân ở niêm mạc. Biểu hiện lâm sàng là cảm giác đau căng tức hoặc nóng ran vùng thượng vị, kèm theo nôn, choáng váng.

    Viêm dạ dày thể xuất huyết: Thường biểu hiện dưới dạng các vết ăn mòn đơn độc hoặc kèm theo xuất huyết. Niêm mạc có những chấm xuất huyết đôi khi có những mảng, đám xuất huyết dưới niêm mạc và các vết xước, chảy máu, chính là do sự vỡ mạch máu lớp tiết chính. Xuất hiện do các yếu tố có nguồn gốc ngoại sinh như rượu, thuốc kháng viêm non – streroid... Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường gặp là xuất huyết. Khi chảy máu nhiều và nặng có thể gây choáng và shock. Thường được chẩn đoán bằng nội soi cấp cứu.

    Viêm dạ dày thể ăn mòn: Thường do các chất kích ứng tác động liên tiếp lên bề mặt niêm mạc dạ dày, gây ra sự biến đổi trầm trọng cùng với sự phù nề đơn điệu của niêm mạc dạ dày và sau đó là tình trạng hoại tử tại chỗ của niêm mạc dạ dày. Sau một thời gian, các fibrin hàn gắn lại tạo thành các mô sẹo. Mức độ tổn thương phụ thuộc bản chất và nồng độ chất gây tổn thương; ngoài ra còn phụ thuộc sự hòa loãng các chất ăn mòn do các chất bên trong dạ dày, và sự trung hòa chất kiềm do acid dạ dày. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau thượng vị ngay tức thì sau khi dạ dày tiếp xúc với chất kích ứng; sau đó là nôn, đôi khi nôn ra máu; trong các trường hợp nặng có thể có shock.

    Viêm dạ dày thể nhiễm khuẩn: Với sự có mặt của các vi sinh vật gây nhiễm khuẩn. Trong trường hợp dạ dày bị viêm tấy, dịch rỉ viêm làm mưng mủ các vách niêm mạc cùng với thành dạ dày, có thể gây hậu quả thủng và gây viêm phúc mạc. Người ta gọi đó là dạ dày phù thũng. Thể bệnh này giảm rất nhiều từ khi có kháng sinh, nhưng hiện nay đang có xu hướng gia tăng trở lại.

    Hậu quả do viêm dạ dày cấp để lại là gì?

    Quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, liền sẹo nhanh, phục hồi hoàn toàn. Song có một số tác giả cho rằng có thể từ viêm dạ dày cấp, nếu bị nhiều đợt có thể chuyển thành viêm mạn, vì niêm mạc bị phá hủy liên tiếp và có vai trò của cơ chế tự miễn. Viêm dạ dày thể ăn mòn hoặc xuất huyết có thể dẫn đến shock, trụy tim mạch...

    Điều trị viêm dạ dày cấp như thế nào?

    Trước hết là chế độ ăn, tùy theo tình trạng mà có thể cần nhịn ăn thay bằng truyền tĩnh mạch trong 1 – 2 ngày đầu, sau đó uống sữa, ăn súp, thức ăn mềm, rồi ăn cơm bình thường.

    Nguyên tắc chung trong điều trị là bù nước điện giải và chống shock; nếu có nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh, nếu có xuất huyết tiêu hóa thì điều trị theo phác đồ xuất huyết tiêu hóa; nếu do ngộ độc hoặc uống nhầm hóa chất thì phải rửa dạ dày...

    Tùy theo nguyên nhân và tình trạng bệnh mà cân nhắc sử dụng các thuốc antacid, các thuốc giảm tiết hoặc các thuốc băng se và bảo vệ niêm mạc dạ dày.

  12. #12
    Dr_NTN Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 2
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    51

    Mặc định

    Xin cảm ơn bác sĩ về những thông tin bổ ích trên.Ah các bác sĩ ơi cho em hỏi thêm là nếu tình trạng viêm dạ dày cấp chuyển sang mãn tính và tái đi tái lại thì có làm tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày sau này không?

  13. #13
    Nammap Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Đang ở
    HO CHI MINH CITY
    Bài viết
    11,304

    Mặc định

    Mình xin trả lời bạn như sau:

    Nếu tình trạng viêm tái đi tái lại thì có thể làm teo niêm mạc dạ dày và nguy cơ dẫn tới ung thư dạ dày là rất cao

    Viêm teo niêm mạc dạ dày là một thuật ngữ mô học với đặc trưng viêm mạn tính, tế bào tuyến của niêm mạc dạ dày mất đi hoặc bị thay thế bằng các tế bào biểu mô dạng niêm mạc ruột, các tuyến môn vị và mô xơ. Đây là biểu hiện giai đoạn cuối của các bệnh lý như viêm dạ dày mạn tính do nhiễm vi khuẩn H.pylori, các yếu tố ngoại sinh khác và bệnh lý tự miễn dịch chống lại các tế bào tuyến của dạ dày, đặc biệt là tế bào thành và yếu tố nội. Viêm teo niêm mạc dạ dày do vi khuẩn H.pylori thường không có triệu chứng nhưng nguy cơ diễn tiến tới ung thư dạ dày rất cao.

  14. #14
    bac_si_map Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    709

    Mặc định

    Những thông tin trên quả thật rất bổ ích.Em có người bạn hay bị viêm dạ dày phải gửi link này cho nó mới được!

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •