Kết quả 1 đến 10 của 10

Chủ đề: Mỗi ngày 1 bệnh

  1. #1
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Exclamation Mỗi ngày 1 bệnh

    . XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

    Xuất huyết tiêu hóa (hay còn gọi là chảy máu tiêu hóa) là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra. Chảy máu có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của ống tiêu hóa từ miệng tới thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn. Mức độ mất máu có thể nhẹ tới vừa, thậm chí nhiều trường hợp chảy máu nặng gây mất máu nghiêm trọng đe dọa tới tính mạng bệnh nhân.

    Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều phương pháp khác nhau đặc biệt là các kỹ thuật nội soi điều trị giúp chẩn đoán và xử trí kịp thời nhiều trường hợp xuất huyết tiêu hóa rất có hiệu quả.

    Nguyên nhân nào dẫn tới xuất huyết tiêu hóa ?


    Ở thực quản: Xơ gan có thể dẫn tới giãn tĩnh mạch thực quản, khi giãn quá mức, tĩnh mạch vỡ ra gây xuất huyết ồ ạt rất nguy hiểm; bệnh lý viêm thực quản do trào ngược dịch dạ dày lên thực quản, trong hội chứng Mallory-Weiss do bệnh nhân nôn, nôn khan, hoặc ho kéo dài dẫn tới viêm thực quản và vì vậy có thể gây xuất huyết.

    Ở dạ dày: Các nguyên nhân gây viêm loét dạ dày như: rượu, xoắn khuẩn Helicobacter pylori, aspirin và các thuốc chống viêm giảm đau, stress... hoặc các bệnh lý ác tính như ung thư dạ dày đều có thể gây xuất huyết tiêu hóa.

    Ở ruột: Loét hành tá tràng là nguyên nhân rất thường gặp gây xuất huyết. Chảy máu còn có thể do trĩ, bệnh polyp đại trực tràng, ung thư đại trực tràng, các bệnh lý khác như viêm loét đại trực tràng, bệnh Crohn. Ngoài ra có thể gặp các nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa: dị dạng mạch máu, bệnh máu, chảy máu đường mật...

    Triệu chứng xuất huyết tiêu hóa ?

    Triệu chứng của xuất huyết phụ thuộc vào nguyên nhân, vị trí chảy máu và mức độ mất máu. Thông thường gặp các dấu hiệu sau:

    Nôn ra máu: Là triệu chứng thường gặp, chảy máu dạ dày - tá tràng thường nôn ra máu đen lẫn cục hoặc lẫn thức ăn. Chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản thường nôn ra máu ồ ạt, máu đỏ tươi, số lượng nhiều, thường nặng và tỷ lệ tử vong cao.

    Đi phân ngoài đen hoặc có máu: Phân đen như bã cà phê, mùi khắm, thường lỏng; phân có máu tươi có thể do chảy máu nhiều như trong vỡ giãn tĩnh mạch thực quản hoặc chảy máu ở đoạn thấp của đường tiêu hóa.

    Các triệu chứng do mất máu: Mất máu kéo dài làm ảnh hưởng tới toàn trạng, bệnh nhân thường xanh xao, yếu mệt, hoa mắt, chóng mặt; trường hợp mất máu mức độ nặng thường kèm theo triệu chứng sốc: da xanh tái, vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp hạ, tiểu ít, khó thở, có thể co giật...

    Cần làm gì khi bị xuất huyết tiêu hóa ?

    Đa số bệnh nhân tới viện vì các triệu chứng nôn ra máu và đi ngoài phân đen, thường là mất máu mức độ vừa tới nặng, thậm chí nhiều trường hợp vào viện trong tình trạng cấp cứu. Tuy vậy ngay cả khi không có bằng chứng xuất huyết, bệnh nhân chỉ có các triệu chứng như đau bụng vùng thượng vị, hoặc đau bụng khi dùng các thuốc có hại cho dạ dày, hoặc bệnh nhân xanh xao, hoa mắt, chóng mặt... cũng cần đi khám ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

    Điều trị và phòng bệnh


    Điều trị xuất huyết tiêu hóa tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ, nguyên nhân, vị trí chảy máu. Ngoài việc điều trị triệu chứng, ổn định các chức năng sống khi bị mất máu nặng, kết hợp dùng các thuốc co mạch, giảm tiết, kháng sinh... bệnh nhân có thể được chỉ định nội soi can thiệp, qua đó rất nhiều trường hợp xuất huyết đã được xử trí tốt như: xử trí xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày – tá tràng, xử trí giãn tĩnh mạch thực quản bằng thắt vòng cao su...

    Ở nước ta hầu hết các bệnh viện tuyến trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đã thực hiện được thủ thuật này. Việc điều trị nội khoa đặc hiệu, làm thủ thuật hoặc phẫu thuật cho bệnh nhân bị xuất huyết tiêu hóa có thể được chỉ định khi có sự cân nhắc của thầy thuốc chuyên khoa.

    Phòng bệnh cần không uống rượu bia và hút thuốc, không dùng các thuốc và thức ăn có hại cho dạ dày, nên ăn tăng cường chất xơ và rau quả. Trong đợt xuất huyết cần dùng các thức ăn mềm, ăn thành nhiều bữa trong ngày.
    Lần sửa cuối bởi kienne, ngày 28-05-2010 lúc 08:29 PM.

  2. #2
    superhot Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    254

    Mặc định

    Thêm bài về đường tiêu hóa đi bạn Mod ơi !!

  3. #3
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định

    VIÊM RUỘT

    Hệ tiêu hóa bao gồm một tập hợp các cơ quan như dạ dày, ruột già, ruột non, trực tràng... có nhiệm vụ chuyển thức ăn thành dưỡng chất và hấp thu các dưỡng chất này vào máu để cung cấp cho cơ thể. Chúng ta hiếm khi chú ý đến hoạt động của chúng trừ khi có trục trặc, chẳng hạn như khi chúng ta bị viêm đường ruột.

    Bệnh viêm ruột được cho là gồm 2 căn bệnh mạn tính do viêm đường ruột: bệnh viêm ruột kết gây loét và bệnh Crohn. Mặc dù các căn bệnh này có nhiều đặc điểm chung nhưng giữa chúng cũng có những khác biệt lớn.

    Viêm ruột kết gây loét là căn bệnh viêm ở ruột già, còn được gọi là ruột kết. Viêm ruột kết gây loét thường nặng nhất ở vùng trực tràng, có thể gây tiêu chảy thường xuyên, với phân thường có máu và nước nhầy nếu ruột kết bị tổn thương.

    Bệnh Crohn thường ảnh hưởng đến phần cuối của ruột non (đoạn cuối ruột hồi). Tuy nhiên, bệnh này không hề giới hạn ở các khu vực này và có thể tấn công bất kỳ bộ phận nào của bộ máy tiêu hóa. Bệnh Crohn gây viêm và ăn sâu hơn vào các lớp của thành ruột, sâu hơn nhiều so với viêm ruột kết gây loét. Nó thường ảnh hưởng tới toàn bộ thành ruột.

    + Nguyên nhân gây viêm ruột

    Các nhà nghiên cứu y học vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây viêm ruột. Họ cho rằng các yếu tố có thể gây bệnh gồm có môi trường, chế độ ăn uống và có thể có cả yếu tố di truyền. Nhiều bằng chứng y học cũng cho thấy thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Crohn. Tại Mỹ, có trên 1 triệu người mắc bệnh viêm ruột, thường ở những người từ 15-30, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng lên cả trẻ em và người lớn. Theo ghi nhận, số trường hợp mắc bệnh này tại châu Âu và Bắc Mỹ cao hơn nhiều so với các khu vực khác của thế giới.

    + Dấu hiệu và triệu chứng


    Các triệu chứng thường thấy nhất ở cả hai bệnh viêm loét ruột kết và bệnh Crohn là tiêu chảy và đau bụng. Tiêu chảy có thể xảy ra từ mức độ vừa phải cho đến nghiêm trọng (khiến cho bệnh nhân phải chui vào toa-lét từ 20 lần trở lên trong 1 ngày). Nếu tiêu chảy quá nhiều sẽ dẫn tới mất nước, tim đập nhanh và tụt huyết áp. Việc tiếp tục mất một lượng máu nhỏ trong phân cũng có thể dẫn tới thiếu máu.

    Táo bón cũng có thể là một trong các triệu chứng của bệnh viêm ruột. Ở bệnh Crohn, táo bón xảy ra như là kết quả của sự tắc nghẽn một phần nào đó ở ruột. Ở bệnh viêm ruột kết gây loét, táo bón có thể là một triệu chứng của viêm trực tràng, còn được gọi là viêm ruột thẳng.

    Sốt, mệt mỏi và sụt cân cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân viêm ruột do thiếu ăn và mất nước vì tiêu chảy và viêm ruột mạn tính.

    Ngoài ra cũng có thể có các vấn đề sức khỏe khác do viêm ruột gây ra xuất hiện bên ngoài hệ tiêu hóa, mặc dù các nhà nghiên cứu y học không biết tại sao có các biến chứng này. Một số người bị viêm ruột có thể có các dấu hiệu của viêm nhiễm ở các nơi khác của cơ thể, như ở các khớp, mắt, da và gan. Ở trẻ mắc bệnh viêm ruột kết gây loét hay bệnh Crohn, bệnh có thể làm trẻ chậm lớn và/hoặc làm cản trở quá trình dậy thì.

    + Chẩn đoán bệnh viêm ruột

    Bệnh viêm ruột có thể khó chẩn đoán do chúng không có các triệu chứng rõ ràng mặc dù bệnh đã qua nhiều năm làm tăng nguy cơ phá hoại ruột. Các triệu chứng nếu có biểu hiện ra lại thường giống với các bệnh khác, do đó gây khó khăn cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán bệnh.

    Xét nghiệm máu có thể cho thấy các dấu hiệu của viêm hoặc các bất thường ở ống tiêu hóa. Sự gia tăng số tế bào bạch cầu và tỷ lệ lớp cặn có thể là biểu hiện của viêm ruột, cùng với sự giảm albumin, kẽm và magie trong máu.

    Để chẩn đoán chính xác bệnh viêm ruột gây loét, thường phải cần kiểm tra ruột kết bằng phương pháp nội soi, cho phép các bác sĩ nhìn thấy mức độ của bệnh. Súc ruột cũng có thể giúp chẩn đoán bệnh. Trong trường hợp bệnh Crohn, chụp X-quang sau khi bệnh nhân uống bari thường cho thấy các dấu hiệu đặc trưng của viêm ở thành ruột.

    + Điều trị viêm ruột

    Điều trị bằng thuốc là phương pháp đầu tiên để làm giảm các triệu chứng của cả bệnh viêm ruột kết gây loét và bệnh Crohn. Hai loại thuốc thường được kê đơn là thuốc chống viêm (như mesalamine, olsalazine và balsalazide) và chất ức chế miễn dịch (như steroids, cyclosporin, azathioprine và kháng thể chống TNF). Chất ức chế miễn dịch có công dụng bảo vệ hệ miễn dịch khỏi sự tấn công của các mô của cơ thể khiến cho viêm nhiễm nặng hơn.

    Nếu trẻ bị viêm ruột không có phản ứng với thuốc, có thể sẽ cần đến phẫu thuật. Ở bệnh Crohn, người ta cố gắng thử bằng mọi cách để tránh phẫu thuật do tính chất diễn ra định kỳ tự nhiên của bệnh. Phẫu thuật cũng có thể dẫn đến các biến chứng như hội chứng ruột ngắn - làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng đến sự phát triển. Ở bệnh viêm ruột kết gây loét, cắt bỏ ruột kết (ruột già) là cần thiết.

  4. #4
    minhduc2310's Avatar
    minhduc2310 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    1,302

    Mặc định

    Hix, nhiều chữ quá. Mà cậu có thể post thêm bài về trĩ được không ? Đang muốn tìm hiểu ^^

  5. #5
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định

    . TRĨ

    + 1-Bệnh trĩ là gì?
    Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.

    Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.

    Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.

    + 2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?

    Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.

    -Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.

    -Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.

    -Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

    + 3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?

    Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.

    + 4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?

    Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

    -Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

    -Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

    -Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

    -Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…

    -U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

  6. #6
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định

    TIÊU CHẢY

    + Nguyên Nhân Tiêu Chảy
    Tiêu chảy có thể chỉ là tạm thời, nghĩa là tiêu chảy trong một thời gian ngắn, phần lớn do nhiễm trùng, còn tiêu chảy kinh niên có thể do bệnh đường ruột.
    Những nguyên nhân tiêu chảy bao gồm:
    Nhiễm trùng đồ ăn hay nước uống. Những vi trùng (bacteria) thường thấy như vi trùng Campylobacter, Salmonella, Shigella, và Escherichia Coli.
    Nhiễm siêu vi trùng (virus) gây tiêu chảy như siêu vi trùng Rotavirus, Norwalk virus, Cytome- -galovirus, Herpes simplex virus, và siêu vi trùng viêm gan (hepatitis virus).
    Tiêu chảy do đồ ăn không quen hay ăn không tiêu do chất lactose.
    Ký sinh trùng trong đồ ăn nước uống, như Giardia lamblia, Entamoeba histolytica, và Crypto -sporidium.
    Phản ứng thuốc trụ sinh hay kháng sinh, công phạt do thuốc trị cao máu, thuốc chống acids như chất magnesium.
    Bệnh đường ruột như viêm ruột hay bệnh celiac disease.
    Bệnh tiêu chảy có thể do chức năng ruột kích động, hội chứng kích động ruột (irritable bowel syndrome).
    Trong vài trường hợp khác, tiêu chảy sau khi giải phẫu bao tử hay mổ bỏ túi mật. Lý do chính gây tiêu chảy là bởi đồ ăn di chuyển quá nhanh trong ruột sau khi giải phẫu bao tử hay chất mật tích tụ quá nhiều trong ruột sau khi bỏ túi mật.
    Một vài trường hợp hiếm có không tìm ra nguyên nhân tiêu chảy.
    Du lịch tại vài nước đang mở mang bị tiêu chảy là do vi trùng hay siêu vi trùng nhiễm trong đồ ăn. Những người du lịch xuất xứ từ những nước như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, những nước ở Âu Châu, Nhật Bản, Úc Châu và Tân Tây Lan, sang những nước đang mở mang, dễ bị bệnh tiêu chảy.
    Khi du lịch, tránh nguy cơ tiêu chảy bằng cách không uống nước lã, không đánh răng súc miệng bằng nước lã, không uống sữa chưa khử trùng, không uống nước đá làm bằng nước lã, không ăn trái cây xanh, nên bỏ vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn rau sống, không ăn thịt hay cá chưa nấu chín, không ăn uống đồ ăn từ những hàng bán rong ngoài đường.
    Nên uống nước trong chai, nước ngọt soda trong hộp, hay cà phê nước đun sôi.
    Nhiều bác sĩ cho bệnh nhân thuốc tiêu chảy và kháng sinh hay trụ sinh mang theo phòng hờ sợ nhỡ bị tiêu chảy nhiễm trùng chưa kịp có thuốc uống, nhưng nếu bệnh nặng nên gặp sĩ nơi mình cư ngụ.

    + Triệu chứng tiêu chảy gồm có đau bụng, lình bình trong bụng, ói, đi cầu thường xuyên. Bệnh nhân có thể bị nóng và tiêu chảy ra máu.Tiêu chảy cấp tính thường thì do vi trùng, siêu vi trùng hay ký sinh trùng, không kéo dài quá 3 tuần lễ. Tiêu chảy quá 3 tuần lễ là tiêu chảy kinh niên thường do bệnh viêm đường ruột hay hội chứng kích động ruột.
    Trẻ em cũng có thể bị tiêu chảy cấp tính hay kinh niên. Tiêu chảy trẻ em do nhiều nguyên nhân như nhiễm vi trùng, nhiễm siêu vi trùng, ký sinh trùng, hoặc do vài thứ thuốc uống, do bệnh đường ruột hay dị ứng đồ ăn.

    + Điều Trị: Không bao giờ dùng thuốc tiêu chảy người lớn cho trẻ em uống.
    Khi trẻ sơ sinh hay còn nhỏ tuổi tiêu chảy rất nguy hiểm vì mất nước trong cơ thể. Trẻ bị mất nước trong vài ngày có thể tử vong. Bởi vậy khi trẻ bị tiêu chảy phải thận trọng hơn người lớn phải đưa trẻ gặp bác sĩ nhi đồng ngay.
    Những triêu chứng sau đây cũng cần đưa trẻ gặp bác sĩ thật sớm như: trong phân có máu hay mủ, phân đen như cà phê, nóng sốt hơn 101.4 độ Fahrenheit, uống thuốc trong 24 giờ không thuyên giảm bệnh, hay trẻ bị mất nước trong cơ thể. Khi bị mất nước, trẻ bị khát nước, ít đi tiểu, khô da, mệt mỏi, chóng mặt, và nước tiểu đậm mầu. Những triệu chứng khác như môi và lưỡi khô, khóc không ra nước mắt, quá 3 giờ mà chưa đi tiểu ra tã, mắt hõm, nóng sốt, nằm không yên, da nhăn nheo, da không thẳng ngay khi khẽ bóp nhẹ ngoài da.
    Khi trẻ bị mất nước vì tiêu chảy phải vào nhà thương cấp cứu.

  7. #7
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định

    UNG THƯ DẠ DÀY

    Ung thư dạ dày là một trong năm loại ung thư thường gặp tại Việt Nam. Triệu chứng bệnh thường mơ hồ nên bệnh nhân khi nhập viện thường ở trong giai đoạn muộn. Tại Hà Nội, ung thư dạ dày đứng hàng thứ nhì trong mười loại ung thư ở cả hai giới nam và nữ; còn tại TPHCM, ung thư dạ dày xếp hàng thứ ba ở nam và đứng thứ năm ở nữ.

    Nhiều yếu tố nguy cơ

    Cho đến nay vẫn chưa xác định chính xác nguyên nhân gây ra ung thư dạ dày nhưng y học nhận thấy có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến căn bệnh này. Tuổi càng cao càng dễ mắc bệnh hơn và người dân có điều kiện sống thấp dễ bị ung thư dạ dày.

    Nam giới bị ung thư dạ dày nhiều hơn nữ giới do liên quan đến việc hút thuốc lá. Ngoài ra, những người ăn nhiều thức ăn nướng, hun khói, tẩm gia vị nhiều dễ bị ung thư dạ dày. Ung thư dạ dày còn do viêm dạ dày mạn tính vì nhiễm vi trùng Helicobacter pylori, đây là một loại vi trùng sống thường trú trong dạ dày. Tuy có liên hệ đến vi trùng nhưng ung thư dạ dày không có tính lây lan từ người sang người. Ngoài ra, ung thư dạ dày còn liên quan đến yếu tố di truyền.

    Ở giai đoạn sớm, ung thư dạ dày hầu như không có triệu chứng. Khi bệnh đã tiến xa, bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, cảm giác đầy bụng sau ăn, buồn nôn và ói mửa, sụt cân nhanh. Tuy nhiên, các dấu hiệu này không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư nên bệnh nhân dễ nhầm lẫn với các bệnh khác ở dạ dày như loét dạ dày hay nhiễm trùng nên khi bệnh được phát hiện thì ung thư đã di căn xa. Vì thế khi có các triệu chứng mơ hồ như trên kéo dài, người bệnh nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.


    Điều trị sớm, khả năng khỏi bệnh cao


    Hiện nay, ung thư dạ dày là một trong những loại ung thư có thể phòng ngừa và điều trị tốt nếu bệnh nhân đến bác sĩ khi bệnh chưa chuyển sang giai đoạn di căn. Các xét nghiệm cần thiết để tầm soát ung thư tái phát gồm có: xét nghiệm sinh hóa, X-quang, nội soi dạ dày, CT scan ổ bụng và dùng các chất chỉ điểm ung thư. Ngoài ra, tầm soát ung thư cũng là cách phòng ngừa căn bệnh này.

    Ung thư dạ dày được chia thành 4 giai đoạn, khi bệnh đã diễn đến giai đoạn 4, ung thư dạ dày có thể lan qua gan, tụy, hạch bạch huyết và các cơ quan khác nên tiên lượng rất xấu. Nếu không điều trị, ung thư dạ dày sẽ gây ra các biến chứng như nghẹt dạ dày, thủng khối u, chảy máu khối u...

    Phẫu thuật là cách điều trị chính cho ung thư dạ dày, thầy thuốc sẽ cắt bỏ bán phần, toàn phần hay có thể cắt thêm lách hoặc cơ quan khác rồi tạo một dạ dày giả bằng ruột tùy theo mức độ xâm lấn của khối u. Khi ung thư lan rộng không còn cắt bỏ được và dạ dày bị nghẹt, phẫu thuật viên sẽ nối dạ dày và ruột non để thức ăn lưu thông được từ trên xuống như bình thường. Tuy nhiên, đây chỉ là phẫu thuật mang tính tạm bợ và tiên lượng rất xấu.

    Việc theo dõi sau khi điều trị ung thư dạ dày rất quan trọng vì ung thư có thể tái phát âm thầm mà không gây triệu chứng gì bất thường. Khi thấy cơ thể mình khác lạ thì bệnh nhân nên đến gặp thầy thuốc để được kiểm tra lại và chọn phương pháp điều trị thích hợp.

    Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư dạ dày

    Cần lưu ý cách ăn uống sau mổ vì vài ngày đầu bệnh nhân rất mệt và có ống thông dạ dày giúp đường khâu nối mau lành. Sau mổ, bệnh nhân có thể cảm thấy yếu sức một thời gian và có thể bị tiêu chảy hoặc bón hoặc chảy máu, nhiễm trùng. Các triệu chứng này có thể kiểm soát bằng cách thay đổi khẩu phần và dùng thuốc.

    Biểu hiện thường thấy nhất ở bệnh nhân ung thư dạ dày sau điều trị là chán ăn gây sụt cân nhanh, vì vậy đôi khi phải nuôi ăn cho bệnh nhân qua đường tĩnh mạch hoặc qua đường ruột. Một hậu chứng khác là hội chứng dumping xảy ra khi thức ăn hay thức ăn lỏng vào ruột non quá nhanh khiến bệnh nhân thấy đau bụng quặn cơn, buồn nôn, trướng bụng, tiêu chảy và chóng mặt.

    Phòng ngừa ung thư dạ dày chủ yếu dựa vào cách ăn uống và khẩu phần, tránh hút thuốc lá, tránh thức ăn nhiều muối, nhiều gia vị hoặc có nhiều chất hóa học như nitrate, nên ăn rau cải tươi, chanh và các chất chứa nhiều vitamin C khác sẽ giúp tránh ung thư dạ dày và nhiều loại ung thư khác.

  8. #8
    NHMN Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    264

    Mặc định

    Bạn mình mới đi khám thì được chẩn đoán là bệnh trào ngược thực quản , bác có thể cho biết thêm thông tin về căn bệnh này không , có thể điều tri dứt không , có nguy hiểm đến tinh mạng không , cám ơn bác

  9. #9
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định

    Nguyên nhân :

    Hai nhóm nguyên nhân chính của bệnh là: Nguyên nhân tại dạ dày (hẹp môn vị, tăng tiết acid, khi áp lực ở dạ dày tăng lên...) và nguyên nhân do cơ vòng thực quản bị yếu. Ngoài ra, bất thường của cơ hoành như trong thoát vị lỗ cơ hoành cũng gây trào ngược thực quản dạ dày.

    # Nhu động thực quản quá yếu (do cơ chế thần kinh hoặc do bệnh lý nội tại của thực quản) không đủ sức tống trở lại số dịch vị trào ngược đó.
    # Tăng áp lực trong dạ dày và ứ đọng thức ăn, thường xảy ra khi nhu động dạ dày quá yếu hoặc khi môn vị bị hẹp, xơ cứng, không mở đầy đủ để thức ăn xuống ruột non trong các trường hợp loét xơ chai tiền môn vị, hành tá tràng, hoặc ung thư hang vị, tiền môn vị.
    # Tăng áp lực trong ổ bụng (ở người có thai, người bị cổ trướng căng to, ở người béo).
    # Cơ tròn thực quản dưới kém trương lực không đóng khít hoặc có sự bất thường trong cấu trúc các tổ chức xung quanh tâm vị, đặc biệt khi có khuyết tật của lỗ cơ hoành (nơi thực quản chui qua từ lồng ngực xuống ổ bụng để nối tiếp với dạ dày) gọi là “thoát vị cơ hoành

    Hậu quả :


    Bình thường, niêm mạc thực quản được bảo vệ chống lại chất toan dịch vị nhờ 3 cơ chế:

    * Nhu động thực quản tống dịch vị trở lại dạ dày như trên đã nói.
    * Trung hòa chất toan dịch vị bởi nước bọt nuốt xuống có tính chất kiềm mạnh.
    * Lớp nhầy niêm mạc và hàng rào biểu mô có tế bào nhầy tiết bicarbonate có khả năng loại trừ số acid đã vượt qua.

    Khi dịch vị trào lên quá nhiều, vượt các khả năng chống đỡ nói trên sẽ gây bệnh tích ở niêm mạc thực quản, thông thường nhất ở 1/3 dưới; có khi lên cả đoạn trên, từ viêm đỏ phù nề đến loét trợt niêm mạc, hẹp lòng thực quản và biến đổi cấu trúc niêm mạc có dị sản ruột và loạn sản (thực quản charrett) tiền thân của ung thư thực quản.

    Chẩn đoán xác định :


    Nội soi ống tiêu hóa trên đóng một vai trò quan trọng xác định chứng bệnh này: Khi phát hiện viêm, trợt hoặc loét thực quản ở bệnh nhân trong bệnh sử có 2 biểu hiện cơ năng là nóng rát sau xương ức và ợ chua, chẩn đoán gần như được khẳng định. Nội soi sinh thiết một số mảnh ở các vùng bệnh lý đó có thể phát hiện các biến đổi cấu trúc của thực quản, để có biện pháp theo dõi, phòng ngừa sự tiến triển đến ung thư. Không những thế nội soi còn có thể phát hiện các nguyên nhân thực thể tạo điều kiện cho trào ngược dịch vị như thoát vị cơ hoành để có biện pháp can thiệp ngoại khoa thích hợp.

    Hạn chế bệnh :


    # Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc thực quản: Chủ yếu tăng cường nhu động để tống dịch vị trở lại dạ dày, có thể dùng các thuốc kích thích nhu động như: motilium, metoclopramido... Có thể dùng sucrafate vì khi tiếp xúc với dịch vị toan, sucrafate sẽ tạo thành một màng bao phủ lên niêm mạc, vết trợt hoặc vết loét để bảo vệ chất chống toan dịch vị.
    # Hạn chế yếu tố tấn công niêm mạc thực quản bằng các thuốc ức chế tiết toan như famotidine, omeprazol, pantoprazol.
    # Hạn chế các yếu tố thuận lợi cho việc trào ngược dịch vị lên thực quản chủ yếu bằng chế độ sinh hoạt, như không ăn các chất béo và các chất khó tiêu, nhất là vào bữa tối; không ăn gì thêm sau 20 giờ; không nằm ngay sau khi ăn và ngủ gối cao đầu, kê đầu giường cao hơn một chút để nằm hơi dốc; tránh béo phì. Trong trường hợp có rối loạn cấu trúc tâm vị có thoát vị cơ hoành hoặc hẹp môn vị cần đi thăm khám để bác sĩ quyết định can thiệp bằng nội soi hay phẫu thuật.

    Đây là 1 bệnh mãn tính và hoàn toàn có thể chữa dứt được , không nguy hiểm đến tính mạng đâu , bạn có thể an tâm . Thân ^^

  10. #10
    minhduc2310's Avatar
    minhduc2310 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    1,302

    Mặc định

    Bác kienne post máy bài hay đấy ^^

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •