Vai trò của xét nghiệm RNA-HCV định lượng là gì?

Nên chú ý rằng xét nghiệm định lượng đơn thuần lượng virus trong máu không tương ứng với độ nặng của viêm gan siêu vi C. Ngoài ra, lượng virus dao động ở những người nhiễm, mặc dù sự khác biệt này ít có ý nghĩa, nghĩa là dưới 10 lần khác nhau. Vì vậy, không có một giá trị thực tế nào định lượng virus ở bệnh nhân không theo điều trị.

Tuy nhiên, RNA-PCR định lượng là rất đúng ở bệnh nhân đang được điều trị kháng virus hay những người được giám sát suốt thời gian điều trị. Ví dụ, ở bệnh nhân có lượng RNA-HCV ban đầu >2 triệu bản sao/ml (>800,000IU/ml) có thể có đáp ứng duy trì đối với interferon đơn thuần thông thường hay với interferon kết hợp và liệu pháp ribavirin. Hơn nữa, bệnh nhân có ít hơn 20 lần lượng virus sau 12 tuần điều trị interferon biển đổi thì cũng không thể có đáp ứng duy trì.

Xét nghiệm nào nhận diện genotype virus?

Kỹ thuật PCR của acid nucleic ứng dụng để xác nhận genotype HCV. Vài trường hợp đặc biệt, mục đích xác định genotype là để định liệu thời gian điều trị kháng virus. Vì vậy, bệnh nhân với genotype 2 hay 3 có thể được điều trị 6 tháng với liệu pháp kết hợp Rebetron (xem điều trị HCV ở dưới thay vì điều trị 12 tháng dành cho bệnh nhân nhiễm genotype 1). Hơn nữa, bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3 có thể đáp ứng với liệu pháp interferon hơn là những người nhiễm genotype 1. Vì vậy, hiểu biết về genotype có thể có ích trong việc tiên lượng khả năng đáp ứng thuận lợi đối với liệu pháp interferon.

Vai trò của sinh thiết gan trong quản lý viêm gan siêu vi C ?
Nhiều cuộc thảo luận đã tập trung vào vai trò của sinh thiết gan trong việc quản lý bệnh nhân viêm gan siêu vi C. Nhiều chuyên gia về gan nhận thấy rằng, sinh thiết gan là một phần quản lý của bất cứ bệnh nhân viêm gan siêu vi C nào. Một mặt, bệnh nhân có sẵn bệnh gan nền mà không có triệu chứng, thăm khám và xét nghiệm nào bất thường. Mặt khác, sinh thiết gan cung cấp những thông tin quan trọng về độ nặng, và từ đó giúp tiên lượng được bệnh gan.

Một vài nhà giải phẫu bệnh sử dụng chỉ số hoạt động mô Knodell (HAI), là một chỉ số hỗn hợp kết hợp 4 đặc tính khác nhau của sinh thiết gan. Với HAI, sinh thiết gan bình thường được 0 điểm, trong khi sinh thiết cho thấy xơ gan với viêm gan đang hoạt động thì đến 22 điểm. Tuy nhiên, hầu hết các nhà giải phẫu bệnh (chuyên gia nghiên cứu về mô) ngày nay dùng hệ thống mới hơn. Hệ thống này bao gồm nguyên nhân của viêm gan, độ lớn của sẹo (hoá sợi) theo thang điểm từ 0 (không hoá sợi) đến 4 (xơ hoá), và tình trạng viêm (tế bào lympho gây nên tổn thương tế bào gan) theo thang điểm 0-4.

Nghiên cứu gần đây cho rằng sinh thiết ngay từ đầu có thể tiên đoán được khả năng tiến đến xơ gan trong vòng 10 năm. Không có gì ngạc nhiên khi bệnh nhân với tổn thương viêm và hoá sợi trung bình có khả năng tiến đến xơ gan nhiều hơn người không có hoá sợi và tổn thương viêm tối thiểu. Ngoài ra, với mong muốn điều trị, bệnh nhân có xơ gan ít, có thể đáp ứng với liệu pháp interferon đơn thuần thông thường hơn là người không có xơ gan. Do đó, những thông tin lấy từ sinh thiết gan có thể giúp bệnh nhân và bác sĩ cân nhắc giữa nguy cơ và thuận lợi của liệu pháp kháng virus.

Mặt khác, có những chuyên gia khác về gan không chủ trương sinh thiết gan. Họ đưa ra trong số những lý do khác, có chi phí của sinh thiết với lợi ích của nó. Sinh thiết gan thường ít làm, hơn nữa cũng mắc tiền, cho nên nhiều bệnh nhân thích hợp với điều trị kháng virus có thể cân nhắc liệu pháp này mà không cần sinh thiết gan.

Theo Phòng Khám Bênh Gan 12 Kim Mã