Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,214

    Mặc định Đôi điều về chủng ngừa Viêm gan siêu vi B

    I.CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG CHO TRẺ EM

    Ba phương pháp chính về miễn dịch phòng bệnh phổ biến được dùng trên toàn thế giới hiện nay, phụ thuộc vào tỉ lệ nhiễm HBV và các nguồn kinh phí của các nước.
    (1) những phụ nữ mang thai không được sàng lọc về HBsAg và HBeAg huyết thanh. Tất cả những đứa trẻ được nhận 3 liều (tại thời điểm 0, 1 và 6 tháng tuổi) vắc xin HBV tái tổ hợp. Đây là một chương trình cung cấp một hiệu quả vừa phải với một chi phí thấp. Thái Lan là một nước có tỉ lệ nhiễm viêm gan virus B thấp/ vừa phải, là một thí dụ cho việc áp dụng kế hoạch này.

    (2) những phụ nữ mang thai đã được sàng lọc về huyết thanh HBsAg. Những đứa trẻ có mẹ ở nguy cơ cao với HBeAg (+) được nhận HBIG trong 24h sau sinh cộng thêm việc chích ngừa vắc xin. Tất cả trẻ em được n hận 3 liều (lúc 0, 1, và 6 tháng tuổi)vắc xin HBV tái tổ hợp. Tất cả những vắc xin và HBIG dùng cho những trẻ em được sự chi trả bởi chính phủ. Kế hoạch này bảo vệ giá trị sàng lọc HBeAg ở người mẹ nhưng gia tăng sự đắt tiền của HBIG mà nó thì đắt hơn nhiều so với vắc xin. Kế hoạch này được áp dụng thích hợp ở Mỹ, nơi là một đất nước giầu có với tỉ lệ mắc HBsAg thấp.

    (3) Để giảm giá tiền, HBIG được dùng đối với những trẻ em sơ sinh có mẹ có cả HBsAg và HBeAg dương tính ở Đài Loan. Điều này là do Đài Loan là vùng dịch tể cao và tỉ lệ mang HBsAg ở phụ nữ có thai thì cao khoảng 15%. Kế hoạch này chỉ đem lại một miễn dịch thụ động cho những đứa trẻ có mẹ có lượng virus cho máu cao, và kế hoạch này đang đem lại dần dần sự tự chuyển biến tốt lên đến hiện nay.
    Một yếu tố nguyên tắc cho một chương trình tiêm chủng thành công là tỉ lệ được chích ngừa. Chúng tôi xem tỉ lệ được chích ngừa vắc xin là tỉ lệ phần trăm trẻ em nhận đủ 3 liều hay nhiều hơn vắc xin HBV. Tiền sử chích ngừa được xác minh bởi việc kiểm tra thẻ chích ngừa, tiểu sử lấy từ cha mẹ, và những ghi chép từ trung tâm sức khỏe, Đài Loan thông qua những phương cách trên và những kiểm tra tỉ mỉ bởi hệ thống sức khỏe cộng đồng nên tỉ lệ chích ngừa đủ vắc xin HBV thì cao khoảng 97% vào thời điểm hiện nay. Sự thay đổi trong tương lai của vùng châu Á Thái bình dương có thể nâng quỹ kinh phí đủ để tài trợ cho chương trình tiêm chủng vắc xin rộng khắp cho các trẻ em và giữ tỉ lệ chích ngừa ở tỉ lệ cao.

    II.TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG PHỔ BIẾN

    Theo sau việc thực hiện thành công lần đầu tiên trên thế giới về chương trình tiêm chủng vắc xin HBV phổ biến cho các trẻ em ở Đài Loan 20 năm trước, chúng tối đã thực hiện những điều tra dịch tể học về huyết thanh để đánh giá sự bảo vệ lâu dài có đủ không đối với vắc xin HBV và để đưa ra những hành động phù hợp cho các kế hoạch phòng ngừa trong tương lai. Những nghiên cứu này đã được thực hiện mỗi 5 năm từ 1984, trước cả khi bắt đầu chương trình vắc xin phổ biến cho trẻ em. Những maker huyết thanh của HBV, bao gồm kháng nguyên bề mặt viêm gan virus B (HBsAg) và kháng thể đối với HBsAg (anti- HBs) và kháng nguyên lõi (anti- HBc), được kiểm tra từ những trẻ sơ sinh đến người trưởng thành dưới 30 tuổi trong mỗi nghiên cứu. Kết quả theo nhóm tuổi đã được đánh giá bằng cách so sánh những kết quả của cùng nhóm tuổi tại những thời kỳ khác nhau giữa những nghiên cứu 1984, 1989, 1994, 1999, và 2004.

    Để đánh giá hiệu quả của chương trình trong việc diễn tiến của ung thư gan nguyên phát (HCC), chúng tối đã nghiên cứu tỉ lệ mắc HCC ở trẻ em ở Đài Loan từ 1981 đến 1994. Tỉ lệ mắc bệnh tự nhiên trung bình của HCC ở trẻ em từ 6 đến 14 tuổi đã giảm từ 0,70/ 100.000 trẻ từ giữa năm 1981 đến 1986 xuống còn 0,57 từ giữa 1986 đến 1990 và xuống còn 0,36 từ giữa 1990 đến 1994 (P< 0,01). Tỉ lệ mắc HCC ở trẻ em từ 6 đến 9 tuổi giảm từ 0,52/ 100.000 ở những trẻ sinh từ giữa 1974 và 1984 xuống còn 0,13 ở những trẻ sinh giữa 1984 và 1986 (P< 0,001). Sau cùng, chúng tôi mở rộng đến giai đoạn sau đến năm 2000. Tỉ lệ mắc HCC trên 100.000 trẻ em giảm từ 0,54 xuống còn 0,20 ở những trẻ được sinh trước và sau chương trình tiêm chủng vắc xin (R.R.= 0,36). Điều này đã xác minh việc tiêm chủng vắc xin HBV phổ biến đã giảm được tỉ lệ mắc HCC ở trẻ em.

    III.VIỆC THẤT BẠI CỦA TIÊM CHỦNG

    Tình trạng HbsAg của người mẹ dương tính đã được tìm thấy ở 89% những cá thể có huyết thanh dương tính với HbsAg được sanh sau chương trình tiêm chủng. HbsAg của người mẹ được tìm thấy dương tính ở 97% ở những trẻ bị FHF có nhiễm HBV. Mặc dù thành công trong việc tạo miễn dịch đối với viêm gan virus B, nhưng HCC ở trẻ em vẫn không có khả năng được loại bỏ hoàn toàn bởi chương trình tiêm chủng phổ biến. Việc truyền nhiễm HBV từ mẹ sang con thì là một yếu tố quan trọng của việc phát triển HCC. Điều này đã được chứng minh bằng tỉ lệ rất cao HbsAg huyết thanh dương tính ở những đứa trẻ của chúng tôi bị HCC (97%) và mẹ của chúng (96%).
    Một lượng virus cao trong máu người mẹ có thể là một nguyên nhân cho việc thất bại của vắc xin, đặc biệt đối với việc lây truyền trong quá trình sanh đẻ. Một vài nghiên cứu trong quy mô nhỏ đã thử hủy bỏ việc lây truyền từ mẹ sang con bằng cách sử dụng những chất chống virus ở tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ. Tuy nhiên, kết quả thì không chắc được giải quyết. Nó cũng đem rất nhiều tranh cãi do đưa cho một phụ nữ có thai một loại thuốc không được chứng minh an toàn. Một vấn đề khác là chúng tôi không có khả năng xác định được “lượng virus máu cao”. Thế nào là mức báo động về lượng virus trong máu của người mẹ để nguy cơ đứa trẻ mới sinh dễ có khả năng bị trở thành là một người mắc bệnh mạn tính? Khi chúng tôi thiết lập được một mức báo động về lượng virus trong máu của sản phụ thì chúng tôi sẽ xử lý chúng như thế nào? Những câu hỏi then chốt này vẫn chưa có được trả lời tại thời điểm này.
    Những trẻ mới sinh có kháng nguyên HbsAg trong máu thì được coi như đã bị nhiễm trong thời gian mang thai. những đứa trẻ này được sinh ra ở những bà mẹ với lượng virus trong máu cao, nó được đại diện bằng HbeAg dương tính. Từ 1984 đến 1993, 665 trẻ mới sinh được sinh ra từ những bài mẹ mang HbeAg dương tính đã được tuyển chọn cho nghiên cứu về sau. Những đứa trẻ mới sinh ra này đã được kiểm ntra HbsAg ngay sau sinh, trước khi sử dụng HBIG. Tất cả những đứa trẻ mới sinh được nhận HBIG trong 24 h sau sinh cộng thêm vắc xin viêm gan virus B theo sau. Vẫn có 2,4% (16/665) cá thể có huyết thanh dương tí với HbsAg lúc sanh, và tất cả đều bị nhiễm HBV mạn tính. Kế hoạch phòng bệnh bằng miễn dịch hiện tại không bảo vệ hoàn toàn cho những trẻ có nguy cơ cao đối với việc nhiễm từ trong tử cung mẹ (trong quá trình mang thai) và hậu quả là luôn nhiễm HBV mạn tính.
    Tỉ lệ hiện hành và ý nghĩa thống kê lâm sàng của đột biến ở chuỗi xác định (amino acids 121 -149) của HbsAg thì chưa được hiểu rõ, đặc biệt ở thời đại sau tiêm chủng. Có thể một chương trình tiêm chủng phổ biến đã trở nên một động lực đẩy cho một đột biến như thế biểu hiện không? Chúng tôi đã nghiên cứu những đột biến này ở những đứa trẻ mang HbsAg trước và những trẻ 5 tuổi, 10 tuổi, 15 tuổi sau thời kỳ tiêm chủng vắc xin phổ biến ở Đài Loan. Tỉ lệ hiện hành của đột biết chuỗi xác định ở những trẻ HBV- DNA dương tính là 7,8% (8/103) vào 1984, đã gia tăng có ý nghĩa thống kê lên 19,6% (10/51) vào năm 1989, đỉnh của nó là 28,1% (9/32) vào năm 1994, và vẫn tồn tại là 23,1% (3/13) vào năm 1999; nó thì cao hơn ở những trẻ được tiêm chủng đầy đủ so với những trẻ không được tiêm chủng (15/46 so với 15/53; p< 0,001). Tuy nhiên, số lượng đột biến gây ra ở trẻ em từng nghiên cứu thì là ổn định ở giai đoạn đầu từ 5- 10 năm nhưng giảm từ 10- 15 năm sau tiêm chủng vắc xin. Những đột biến còn lại có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn ở vùng với vị trí ưa nứơc hơn (140- 149) ở những trẻ đã tiêm chủng nhiều hơn những trẻ không tiêm chủng với sự gây nhiễm khác nhau. Một chuỗi xác định thay đổi thì có một cơ hội thuận lợi cho việc gây ra sự thất bại miễn dịch ở trẻ em nhưng không đe doạ đối với những kế hoạch tiêm chủng vắc xin HBV hiện nay.
    Một nhóm khác những cá thể, những trẻ dễ bị thất bại trong việc tiêm chủng là những trẻ đã bị tổn thươg hệ miễn dịch. Thí dụ, những bệnh nhân chạy thận nhân tạo (renal dialysis), những bệnh nhân ung thư máu (leukemia) đang điều trị hoá chất, những bệnh nhân đã ghép với việc dùng thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài. Tất cả những trẻ này cần một phương pháp mạnh hơn và kiểm soát kỹ về nồng độ kháng thể của chúng thậm chí với sự bao quát của chương trình tiêm chủng thích hợp ưu tiên.


    drthuthuy.com

  2. #2
    NHMN Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    264

    Mặc định

    Viêm gan B bây giờ phổ biến quá và rất dễ lây nếu không cẩn thận , hình như nó lây qua đường máu và tù mẹ sang con giống HIV , bệnh này có chữa khỏi hoàn toàn được không hay nó giống HIV , đã bị là bị suốt đời

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •