Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Vitamin E

  1. #1
    viet_nguyen Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    550

    Mặc định Vitamin E

    Dạng thuốc và hàm lượng

    Alphatocopherol gồm có đồng phân d và hỗn hợp đồng phân d và l. Thuốc được dùng dưới dạng alphatocopheryl acetat hoặc alphatocopheryl succinat. Một đơn vị quốc tế (đv) tương đương với hoạt tính của 1 mg dl - alphatocopheryl acetat; d - alphatocopheryl acetat có hiệu lực là 1,36 đv/mg; dl - alphatocopheryl sucinat là 0,89 đv/mg; d - alphatocopheryl succinat là 1,21 đv/mg; dl - alphatocopherol là 1,1 đv/mg; d - alphatocopherol là 1,49 đv/mg.

    Viên nén hoặc viên bao đường 10, 50, 100 và 200 mg dl - alphatocopheryl acetat.

    Nang 200 mg, 400 mg, 600 mg.

    Thuốc mỡ 5 mg/1 g.

    Ống tiêm dung dịch dầu 30, 50, 100 hoặc 300 mg/1 ml; tiêm bắp.
    Dược lý và cơ chế tác dụng

    Vitamin E là thuật ngữ chỉ một số các hợp chất thiên nhiên và tổng hợp, chất quan trọng nhất là các tocopherol, trong đó alphatocopherol có hoạt tính nhất và được phân bố rộng rãi trong tự nhiên; các chất khác của nhóm tocopherol gồm beta, gamma và delta tocopherol, nhưng những chất này không dùng trong điều trị, mặc dù chúng có trong thực phẩm. Nhóm hợp chất khác có hoạt tính vitamin E là các tocotrienol.

    Mặc dù các tocopherol có trong thực phẩm, nhưng cũng đã được tổng hợp. Tuy nhiên, alphatocopherol tổng hợp (dl - alphatocopherol) có hoạt tính sinh học kém hơn các chất trong tự nhiên, chiết từ nguồn dược liệu (d - alphatocopherol).

    Ngoài việc làm mất các triệu chứng thiếu vitamin E, vitamin E còn được sử dụng làm chất chống oxy hóa mà về mặt lý thuyết có thể do một trong các cơ chế tác dụng sau:

    Ngăn cản oxy hóa các thành phần thiết yếu trong tế bào; ngăn cản tạo thành các sản phẩm oxy hóa độc hại, ví dụ các sản phẩm peroxy hóa do chuyển hóa các acid béo chưa bão hòa; phản ứng với các gốc tự do (nguyên nhân gây tổn hại màng tế bào do oxy hóa), mà không tạo ra các gốc tự do khác trong quá trình đó.

    Có mối tương quan giữa vitamin A và vitamin E: Tăng hấp thu vitamin A qua ruột khi có vitamin E; vitamin E bảo vệ vitamin A khỏi bị thoái hóa do oxy hóa làm cho nồng độ vitamin A trong tế bào tăng lên; vitamin E cũng bảo vệ chống lại tác dụng của chứng thừa vitamin A.

    Nhu cầu hàng ngày về vitamin E là 10 mg d-alphatocopherol cho nam và 8 mg cho nữ. Sữa người có đủ lượng vitamin E đáp ứng yêu cầu của trẻ bú.

    Vitamin E phân bố rộng rãi trong thức ăn. Nguồn vitamin E giàu nhất là dầu thực vật, đặc biệt là dầu mầm lúa mì, dầu hướng dương, dầu hạt bông; ngũ cốc và trứng cũng là nguồn giàu vitamin E. Vitamin E không bị phân hủy khi nấu nướng.
    Dược động học

    Ðể vitamin E hấp thu qua đường tiêu hóa, mật và tuyến tụy phải hoạt động bình thường. Lượng vitamin E hấp thu giảm khi liều dùng tăng lên. Thuốc vào máu qua vi thể dưỡng chấp trong bạch huyết, rồi được phân bố rộng rãi vào tất cả các mô và tích lại ở mô mỡ.

    Một ít vitamin E chuyển hóa ở gan thành các glucuronid của acid tocopheronic và gamma - lacton của acid này, rồi thải qua nước tiểu, còn hầu hết liều dùng thải trừ chậm vào mật. Vitamin E vào sữa, nhưng rất ít qua nhau thai.
    Chỉ định

    Dùng để điều trị và phòng thiếu vitamin E (chế độ ăn thiếu vitamin E, trẻ em bị xơ nang tuyến tụy hoặc kém hấp thu mỡ do teo đường dẫn mật hoặc thiếu betalipoprotein huyết, trẻ sơ sinh thiếu tháng rất nhẹ cân khi đẻ). Các dấu hiệu chính thiếu vitamin E là các biểu hiện về bệnh cơ và thần kinh như giảm phản xạ, dáng đi bất thường, giảm nhạy cảm với rung động và cảm thụ bản thân, liệt cơ mắt, bệnh võng mạc nhiễm sắc tố, thoái hóa sợi trục thần kinh.

    Vitamin E cũng được dùng làm thuốc chống oxy hóa kết hợp với vitamin C, vitamin A và selenium.

    Còn có các chỉ định khác như sẩy thai tái diễn, vô sinh, nhiễm độc thai nghén, vữa xơ động mạch, bệnh mạch vành... Nhưng các nghiên cứu lâm sàng có kiểm tra kỹ chưa chứng minh được lợi ích của thuốc.
    Thời kỳ mang thai

    Trong thời kỳ mang thai, thiếu hoặc thừa vitamin E đều không gây biến chứng cho mẹ hoặc thai nhi. Ở người mẹ được dinh dưỡng tốt, lượng vitamin E có trong thức ăn là đủ và không cần bổ sung. Nếu chế độ ăn kém, nên bổ sung cho đủ nhu cầu hàng ngày khi có thai.
    Thời kỳ cho con bú

    Vitamin E vào sữa. Sữa người có lượng vitamin E gấp 5 lần sữa bò và có hiệu quả hơn trong việc duy trì đủ lượng vitamin E trong huyết thanh cho trẻ đến 1 năm tuổi.

    Nhu cầu vitamin E hàng ngày trong khi cho con bú là 12 mg. Chỉ cần bổ sung cho mẹ khi thực đơn không cung cấp đủ lượng vitamin E cần cho nhu cầu hàng ngày.
    Tác dụng không mong muốn (ADR)

    Vitamin E thường được dung nạp tốt. Liều cao có thể gây tiêu chảy, đau bụng và các rối loạn tiêu hóa khác và cũng có thể gây mệt mỏi, yếu. Viêm da tiếp xúc đã xảy ra sau khi bôi thuốc.

    Tiêm tĩnh mạch tocopherol đã có trường hợp gây tử vong hoặc gây độc cho gan, thận và hệ tạo máu, nhưng có thể là do thuốc bị nhiễm tạp chất.
    Liều lượng và cách dùng

    Cách dùng: Vitamin E thường dùng qua đường uống. Nếu không uống được, có thể tiêm bắp. Liều lượng: Liều khuyến cáo thay đổi, 1 phần do hoạt tính khác nhau của các chế phẩm. Tuy vậy, liều khuyến cáo hàng ngày gấp 4 đến 5 lần khẩu phần khuyến cáo hàng ngày (RDA), hoặc từ 40 đến 50 mg d-alphatocopherol trong hội chứng thiếu hụt vitamin E. Xơ nang tuyến tụy: 100 - 200 mg dl - alphatocopheryl acetat hoặc khoảng 67 đến 135 mg d-alphatocopherol.

    Bệnh thiếu betalipoprotein - máu: 50 - 100 mg dl - alphatocopheryl acetat/kg hoặc 33 đến 67 mg d - alphatocopherol/kg.

    Dự phòng bệnh võng mạc do đẻ thiếu tháng: 15 - 30 đơn vị/kg (10 - 20 mg alphatocopherol tương đương/kg) mỗi ngày để duy trì nồng độ tocopherol huyết tương giữa 1,5 - 2 microgam/ml. Dự phòng: 10 - 20 mg hàng ngày.
    Tương tác thuốc

    Vitamin E đối kháng với tác dụng của vitamin K, nên làm tăng thời gian đông máu.

    Nồng độ vitamin E thấp ở người bị kém hấp thu do thuốc (như kém hấp thu khi dùng cholestyramin).
    Ðộ ổn định và bảo quản

    Ðể trong chai lọ nút kín, tránh ánh sáng.

    Dạng acetat và succinat không ổn định với kiềm.
    NGUỒN

    Dược thư Quốc gia

  2. #2
    minhduc2310's Avatar
    minhduc2310 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    1,302

    Mặc định

    Mình xin bổ sung luôn cho bài viết nhé :

    Nhiều người tưởng rằng do vitamin E là chất chống ôxy hóa có lợi cho tuổi trẻ và sắc đẹp nên cứ dùng càng nhiều càng tốt. Thực ra, chất này chỉ phát huy tác dụng ở liều nhỏ. Việc lạm dụng nó có thể gây nhiều phiền toái.

    Khởi nguồn của hiện tượng "sùng bái" vitamin E có thể bắt đầu từ những đơn thuốc kê cho người bệnh có tuổi và người cần bổ sung chất này. Sau một thời gian dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, người bệnh thấy cơ thể khỏe khoắn, nước da sáng hồng, bớt nhăn, tinh thần thoải mái. Các cụ đâm ra tín nhiệm vitamin E quá mức.

    Với giới trẻ, thông tin về công dụng chống lão hóa, làm đẹp da của vitamin E xuất hiện ngày một nhiều trên các chương trình quảng cáo thực phẩm và mỹ phẩm. Dùng vitamin E đang là một trào lưu làm đẹp mới.

    Theo các chuyên gia, người có tuổi dùng vitamin E đúng chỉ định sẽ có thể thấy ngay dụng của thuốc: làm da sáng hơn, có cảm giác khỏe khoắn hơn. Song với những người còn trẻ, sức khỏe bình thường, việc dùng nhiều chất này là không cần thiết. Có những phụ nữ mới 30-35 tuổi đã tiêm vitamin E thường xuyên, coi việc này cũng giống như sử dụng mỹ phẩm để phòng ngừa nhăn da và xuống sắc. Điều đó không những gây hao phí tiền của mà còn dễ dẫn đến tình trạng nhờn thuốc, đến khi cần tác động thực sự thì phải dùng tới liều cao. Bạn cũng đừng nghĩ rằng bôi vitamin E dạng tinh dầu trực tiếp lên vết thương sẽ khiến vết thương mau lành hơn.

    Vitamin E tác động đến cơ thể như thế nào?

    Trong quá trình chuyển hóa, tiếp xúc với thuốc men, khói bụi, chất độc, tia tử ngoại..., cơ thể sản sinh ra các gốc tự do. Chúng tấn công các tế bào, phá hủy màng tế bào, làm hư hại bộ máy di truyền trong nhân. Gốc tự do xáo trộn chức năng sinh lý của các bộ phân, gây ra nhiều bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư, thoái hóa thần kinh, alzheimer và khiến con người già đi rất nhanh, nhất là ở da.

    Hệ thống bảo vệ cơ thể có khả năng chống lại hiện tượng trên nhờ sự ôxy hóa các gốc tự do; nhưng sự ôxy hóa ấy sẽ ngày càng yếu đi trong khi các phân tử gốc tự do ngày càng được sản sinh nhiều hơn theo tuổi tác. Vì vậy, cơ thể cần được tiếp thêm chất chống lại gốc tự do, đó là vitamin A, vitamin C, vitamin E và selen. Vitamin E giúp giảm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành, giảm 77% nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim cho những người có thân nhân từng mắc bệnh. Việc dùng vitamin E trước bữa ăn có nhiều mỡ sẽ làm giảm tác hại của mỡ đối với động mạch và ngăn ngừa được bệnh tim mạch. Loại vitamin này còn có khả năng làm tăng sức đề kháng, phòng bệnh đục thủy tinh thể và thoái hóa hoàng điểm ở người già, phòng ngừa được nhiều bệnh ung thư.

    Ngoài việc ngăn chặn tác hại của gốc tự do, vitamin E còn được chỉ định trong điều trị sẩy thai liên tiếp, nhiễm độc thai nghén, một số rối loạn về kinh nguyệt hoặc sau khi cắt bỏ buồng trứng; nam giới ít tinh trùng, suy nhược tinh trùng, vô sinh... Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể xác nhận lợi ích thực sự của vitamin E đối với những loại bệnh lý này .

    Vitamin E không phải là thần dược mà chỉ có thể hạn chế những tác hại của tuổi tác lên sức khỏe con người. Nó chắc chắn sẽ không gây ra những biến chứng không mong muốn nếu dùng quá liều lượng cho phép.

    Tuy vitamin E khá lành tính nhưng đã có trường hợp tử vong khi tiêm trực tiếp tocopherol - thành phần chất quan trọng nhất của vitamin E - vào tĩnh mạch. Có thể đó là do thuốc đã nhiễm tạp chất. Nhưng chắc chắn là việc dùng vitamin E liều quá cao một cách thường xuyên có thể dẫn đến tử vong sớm hơn.

    Theo Tư Vấn Tiêu Dùng, mỗi ngày, cơ thể chỉ cần trung bình 8-10 mg vitamin E. Tốt nhất nên hấp thụ nó qua đường ăn uống với các thực phẩm như dầu thực vật, dầu mầm lúa mì, dầu hướng dương, dầu ngũ cốc, trứng, gan... Ở liều cao (trên 400 IU/ngày), nó lại thúc đẩy các tổn hại do quá trình ôxy hóa gây ra và khống chế các tác nhân chống lão hóa khác. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất khi dùng vitamin E quá liều là tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, suy nhược.

    Ngoài ra, bạn cũng cần nhớ rằng vitamin E đối kháng với tác dụng vitamin K và sẽ làm tăng thời gian đông máu. Vì vậy, việc sử dụng vitamin E bổ sung cần theo sự chỉ định của bác sĩ. Và nói chung, đừng bao giờ lạm dụng thuốc, dù đó chỉ là thuốc bổ như vitamin E.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •