Định nghĩa

Viêm màng cầu thận type II là một rối loạn về thận khiến chức năng thận suy giảm gây ra bởi sự viêm nhiễm và thay đổi trong các mô cấu trúc bên trong của thận

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc, và các yếu tố có tính nguy cơ.


Cầu thận là các cấu trúc bên trong của thận. Chúng bao gồm các mao mạch được bao quanh bởi các màng mà nhờ đó máu được lọc để tạo ra nước tiểu.

Viêm cầu thận có liên quan đến sự viêm nhiễm của các cầu thận. Viêm cầu thận màng tăng sinh (MPGN) là một dạng của viêm cầu thận gây ra bởi một phản ứng miễn dịch bất bình thường, có các chất lắng đọng của các kháng thể trong hai thận

Các tế bào nào đó trong thành mao mạo (các tế bào mesangial) tăng lên về số lượng và các bộ phận của màng cầu thận thay đổi trong cấu trúc. Type của viêm màng cầu thận tăng sinh liên quan đến các chất lắng đọng bên trong màng nền cầu thận (lớp “đáy” của màng)

Viêm màng cầu thận tăng sinh ít phổ biến hơn nhiều so với viêm màng cầu thận tắng sinh type I và xảy ra ở cả nam và nữa, thường là dưới 30

Ảnh hưởng của rối loạn này rất tương tự nhau ở cả hai loại viêm cầu thận màng tăng sinh. Màng cầu thận thay đổi khiến cho các cầu thận có thể trở nên thấm qua được đối với protein và các tế bào máu. Các đặc điểm hiển vi của viêm màng cầu thận tăng sinh type II có phần nào đó hay thay đổi hơn và liên quan nhiều hơn đến tế bào khi so sánh với viêm cầu thận màng tăng sinh type I (MPGN I). MPGN II cũng có xu hướng xấu đi nhanh hơn, dẫn tới bệnh thận giai đoạn cuối nhanh hơn so với MPGN I

Viêm màng cầu thận tăng sinh có thể xuất hiện dưới dạng hội chứng viêm thận cấp, hội chứng thận hư, hay có xét nghiệm nước tiểu có kết quả không bình thường nhưng bệnh nhân không có triệu chứng nào. Viêm cầu thận màng tăng sinh type II chiếm khoảng 5% tất cả các ca viêm cầu thận tự phát (không giải thích được). Các tế bào máu có thể được bài tiết vào trong nước tiểu, khiến nước tiểu vẩn đục. Lượng nước tiểu giảm vỉ mức thanh lọc cầu thận (tốc độc lọc máu) giảm.

Phù ở cơ thể có thể xảy ra khi muối và nước được giữ lại trong cơ thể. Protein trong dòng máu thông thường giữ cho chất lỏng ở bên trong các mạch máu. Khi protein bị mất, chất lỏng thoát ra khỏi các mạch máu vào trong các mô, gây ra hiện tượng phù

Cao huyết áp xảy ra do các tác dụng tích lũy của sự ứ lại muối và nước, và sản xuất renin (một hormone điều chỉnh huyết áp) sụt giảm do thận bị hư hại

Các sản phẩm phế thải có chứa nitơ như urea và creatine có thể tích tụ trong máu khi chức thận kém đi. Các sản phẩm này độc đối với các mô của cơ thể. Rối loạn thường tiến triển và có thể dẫn đến suy thận mạn

Các triệu chứng:

- Có máu trong nước tiểu

- Nước tiểu vẩn đục (màu khói thuốc, màu cola, hay màu trà)

- Nước tiểu có màu sẫm

- Thể tích nước tiểu sụt giảm

- Phù bất cứ bộ phận nào của cơ thẻ

- Các thay đổi trong trạng thái tinh thần:

+ Sự tỉnh táo giảm sút

+ Mất tập trung

Chú ý: các triệu chứng hay thay đổi

Các dấu hiệu và các xét nghiệm

Các kết quả của thăm khám thực tế là khác nhau tùy thuộc vào các triệu chứng của rối loạn. Phù là phổ biến, cùng với các dấu hiệu dư thừ chất lỏng như các âm thanh bất bình thường trong khi nghe bệnh ở tim và phổi. Huyết áp thường tăng lên

Các xét nghiệm sau giúp xác nhận chuẩn đoán


- Xét nghiệm nước tiểu cho kết quả bất bình thường:

+ Có các tế bào bách cầu, trong nước tiểu

+ Có các tế bào hồng cầu trong nước tiểu

+ Có protein trong nước tiểu

+ Các hiện tượng bất bình thường khác

- Sự tăng lên (có thể) của mức BUN và creatinne. Chỉ ra ra chức năng thận đã bị mất

- Sự giảm sút (có thể) trong các mức chất bổ thể của huyết thanh, chỉ ra sự liên quan của hệ miễn dịch

- Sự xuất hiện (có thể xảy ra) của bổ thể huyết thanh thể tự kháng C3 nephritic factor (C3NeF).

Sinh thiết thận sẽ xác nhận chuẩn đoán viêm cầu thận màng tăng sinh type II

Điều trị

Việc điều trị sẽ khác nhau tùy thuộc và các triệu chứng. Các mục tiêu của điều trị là làm giảm các triệu chứng, ngăn chặn các biến chứng, và làm chậm lại sự xấu đi của rổi loạn

Các thay đổi trong chế độ ăn kiêng có thể bao gồm giới hạn muối, chất lỏng, protein, hay các giới hạn đối với các chất khác để kiểm soát huyết áp cao, phù, và kiểm soát sự tích tụ của các chất thải trogn dòng máu

Các thuốc hạ huyết áp có thể là cần thiết để giúp kiểm soát huyết áp. Các thuốc nợi liệu hay các thuốc khác có thể cần đến để kiểm soát phù hay các triệu chứng khác

Lọc máu hay ghép thận có thể được yêu cầu để xử trí đối với suy thận

Tiên lượng


Rối loạn tiến triển từ từ tới suy thận mạn. 50% các các bệnh sẽ phát triển đến suy thận mạn trong vòng 10 năm.

Các biến chứng

- Suy thận cấp

- Hội chứng viêm thận cấp

- Hội chứng thận hư

- Suy thận mạn



Ngăn chặn


Ngăn chặn thường là không thể

(Theo www.nlm-nih.gov)