Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,214

    Unhappy Điều trị cơn cường giáp

    I. Mức độ khẩn cấp

    - Cơn cường giáp cấp là một cấp cứu thực sự, biểu hiện của tình trạng gia tăng bùng nổ các triệu chứng của tình trạng cường giáp, đe doạ tính mạng của bệnh nhân, cần phải cho nhập viện ngay - Mức độ nặng của cơn cường giáp phụ thuộc nhiều vào cơ địa ( người già, tình trạng suy tim và các biến chứng đi kèm như rối loạn nhịp tim, mất bù tâm thần hay lồi mắt ác tính)

    II. những điểm cần lưu ý


    - Hoàn cảnh xẩy ra: Đôi khi cơn cường giáp cấp xẩy ra tự phát. Chỉ khoảng 70% các trường hợp, có thể thấy các nguyên nhân khởi phát

    + Yếu tố khởi phát kinh điển là cơn cường giáp xẩy ra sau phẫu thuật tuyến giáp trên bệnh nhân bị cường giáp song trước mổ chưa được kiểm soát tốt tình trạng cường giáp. Cơn cường giáp thường xẩy ra trong vòng 4-16 giờ sau phẫu thuật. Hiện ít gặp do chuẩn bị trước mổ tốt bằng thuốc kháng giáp trạng và thuốc chẹn beta giao cảm

    + Hay gặp các cơn cường giáp nội khoa trên bệnh nhân cường giáp song chưa được điều trị hay điều trị chưa tốt: Một số yếu tố khởi phát sau được biết

    . Ngừng thuốc điều trị kháng giáp trạng đột ngột

    . Thăm khám tuyến giáp quá thô bạo, sau làm test kìm hãm bài xuất hormon giáp

    bằng T3

    . Do dùng một số thuốc:

    Các thuốc có iod nhất là thuốc cản quang có iod như acid opanoid, ipodate hay sau liệu trình điều trị bằng iod phóng xạ

    Amiodarone, amphetamine, haloperidol

    - Cần lưu ý tới các bệnh lý cấp tính, tình trạng stress đóng vai trò khởi phát đối với cơn cường giáp cấp

    + Can thiệp phẫu thuật

    + Nhiễm khuẩn cấp (nhất là nhiễm khuẩn hô hấp )

    + Bệnh lý cấp cứu của hệ tim mạch và hô hấp: (nhồi máu cơ tim cấp, nhồi máu phổi) hay các bệnh lý chuyển hoá cấp (nhiễm toan xêtôn do tiểu đường, tình trạng mất nước nặng)

    + Stress tâm thầnIII. Thuốc và trang bị cấp cứu cần thiết

    - Các phương tiện cấp cứu cơ bản: oxy và các phương tiện liên quan

    - Thuốc: kháng giáp trạng tổng hợp (PTU viên 25 và 50 mg; hay Néo-Mercazole viên 5mg), thuốc chẹn bêta giao cảm ( propranolol loại ống tiêm 1mg hay viên nén 40 mg), Lugol 10-20%, corticoid ( Depersolone ống 30 mg; hay Solumedrol lọ 40 mg)IV. chẩn đoán lâm sàng

    - Bệnh cảnh lâm sàng của cơn cường giáp cấp ( cơn bão giáp trạng): điển hình và dễ chẩn đoán

    + Thường xẩy ra ở bệnh nhân 50-60 tuổi bị bệnh cường giáp mức độ nặng và thường mới được chẩn đoán bệnh. Cũng thường gặp ở BN nữ do ưu thế bị mặc bệnh tuyến giáp đối với giới nữ (80% các trường hợp)

    + Đôi khi thấy một số dấu hiệu báo hiệu cơn cường giáp: sốt, rối loạn nhận thức hay tâm thần, tình trạng kích động, lo lắng, mệt mỏi hay sút cân tăng nhanh. Nói chung khởi đầu của cơn cường giáp thường đột ngột với gia tăng nhanh các biểu hiện tình trạng cường giáp

    . Tăng thân nhiệt và các biến đổi toàn trạng: Dấu hiệu gần như hằng định. Thân nhiệt nói chung > 39oC và có thể rất cao tới 41oC. kèm với các biến đổi toàn trạng: thở nhanh, da nóng, khát nước và nhiều khi thấy rõ tình trạng mất nước toàn thể nặng với sút cân rất nhanh

    . Biểu hiện tim mạch:


    Nhịp nhanh xoang (>160 ck/min) hay cơn rung nhĩ nhanh hay flutter nhĩ

    Không hiếm gặp bệnh nhân có suy tim hay sốc: Thăm dò huyết động cho

    thấy đó là tình trạng suy tim cung lượng tim cao

    Hiếm thấy các dấu hiệu suy vành

    . Các biểu hiện thần kinh tâm thần cũng thường gặp


    Tình trạng kích động, run, lú lẫn với mất định hướng không gian và thời

    gian, ảo giác, sảng thậm chí cơn loạn thần cấp.

    Đôi khi BN có tình trạng không tiếp xúc, hay tiến triển tới hôn mê thực sự

    . Các triệu chứng của hệ vận động thay đổi tuỳ theo bệnh nhân làm bệnh cảnh lâm sàng của cơn cường giáp thêm phức tạp

    Bệnh cơ của Basedow thường biểu hiện ở mức độ nặng và lan toả: liệt tứ chi,

    rối loạn nuốt, rối loạn phát âm, tổn thương các dây vận nhãn hay liệt cơ hô

    hấp gây suy hô hấp

    . Các dấu hiệu tiêu hoá: đa dạng với đau bụng, buồn nôn, nôn , ỉa chảy thậm chí vàng da và gan to.

    . Các dấu hiệu khác:


    Bướu cổ với thể tích trung bình: Thường thấy (90% các ca).

    Dấu hiệu mắt của cường giáp phát hiện được trong khoảng 50% các ca.

    Lồi mắt ác tính hiếm gặp song rất nặng

    - Đôi khi biểu hiện không điển hình xẩy ra ở bệnh nhân có tuổi, phụ nữ có thai hay sau mổ đòi hỏi phải đặt nghi vấn chẩn đoán và tìm kiếm hệ thống trước các đối tượng có nguy cơ bị cơn cường giáp cấp ( bệnh nhân có tiền sử cường giáp bị một hay nhiều yếu tố thúc đẩy bệnh)

    V. xử trí cấp cứu


    - Các biện pháp xử trí ban đầu

    + Cho thở O2. Theo dõi điện tim và các chức năng sống nhất là thân nhiệt

    + Xử trí ngay tình trạng tụt huyết áp hay phù phổi (nếu có) theo phác đồ

    + Thảo luận cho dùng thuốc chẹn bêta giao cảm TM (propranolol 0,5-1 mg) khi:

    . Chắc chắn BN không bị suy tim và

    . Có cơn đau thắt ngực khi nghỉ hoặc

    . Tần số thất > 150 ck/phút hoặc

    . Có tình trạng kích động nặng

    Sau khi dùng liều đầu tiên, nếu không thấy có biểu hiện rối loạn huyết động, dùng nhắc lại 15 phút/lần tới khi đưa được tần số tim xuống khoảng 100-120 ck/phút

    + Nếu bệnh nhân có tình trạng rung nhĩ hay flutter nhĩ có thể chỉ định dùng digoxin

    . Liều tấn công: 0,5 mg TM trong vòng 30 phút sau đó 0,25 mg TM trong vòng 30 phút x 2h/lần tới khi khống chế được tần số thất (100-120 ck/min) hay tới khi đạt tổng liều 1,5 mg

    . Liều duy trì : 0,25-0,5 mg/ngày đường uống

    + Nếu bệnh nhân có tình trạng kích động nặng, cho chlorpromazine (100-200 mg) tiêm bắp ( Chú ý không dùng khi bệnh nhân bị tụt huyết áp)

    - Điều trị tại phòng khám cấp cứu

    + Dùng ngay thuốc kháng giáp trạng: bắt đầu PTU hay carbimazole (thuốc ức chế

    tổng hợp thyroxine)

    . Carbimazole: Bắt đầu 10- 15 mg uống x 4 lần/ngày. Sau 1 tuần giảm liều xuống

    10 mg x 3 lần/ngày

    . PTU: bắt đầu 150-250 mg x 4lần/ngày. Sau 24h giảm liều xuống 100-200 mg x

    4 lần/ngày. Nên dùng propylthiouracil (PTU) nếu tình trạng cường giáp nặng do

    thuốc bắt đầu có tác dụng nhanh hơn so với carbimazol

    . Iod: Chỉ bắt đầu dùng sau khi đã cho uống carbimazole hay PTU. Uống dung

    dịch Lugol iodin 60 ml/ngày chia 3 lần/ngày hay natri iodin 0,5-1g truyền TM

    12 giờ/lần. Giảm và cắt Iode sau 2 ngày nếu dùng PTU hay sau 1 tuần nếu dùng

    carbimazol

    + Nếu không thấy yếu tố khởi phát rõ rệt (chấn thương, phẫu thuật, hay rối loạn

    chuyển hoá) cần tìm các biểu hiện nhiễm khuẩn và dùng KS phổ rộng (như

    amoxycillin 500 mg x 8h/lần tiêm TM)

    + Các điều trị khác:

    . Truyền dịch : Glucoza 5% và Natri clurua 0,9%

    . Hạ sốt:

    Có thể làm giảm sốt bằng dùng propanolol và chlorpromazin

    áp dụng các biện pháp hạ sốt khác như: quạt mát, đắp lạnh

    Nếu cần có thể dùng paracetamol ,

    Tránh dùng aspirin do thuốc gây giải phóng thyroxin từ globulin mang

    hormon làm tăng nồng độ T4 và T3 tự do trong máu

    VI. Những Xét nghiệm đầu tiên cần làm


    - Xét nghiệm chung: Điện giải đồ , urê, công thức máu, điện tim, X quang ngực

    - Tìm nguyên nhân gây mất bù: nhiễm khuẩn ( phổi, tiết niệu)

    - Đánh giá chức năng tuyến giáp: định lượng TSH, T3 tự do và T4 tự do.

    VII. Những kinh nghiệm Chẩn đoán và điều trị:


    - Đôi khi chẩn đoán cơn cường giáp cấp rất khó:

    + Nhất là trên các bệnh nhân cường giáp sau một phẫu thuật bị biến chứng như:

    nhiễm khuẩn huyết, chảy máu, phản ứng truyền máu hay phản ứng do thuốc

    - Điều trị chuyên khoa: (Tại khoa HSCC): Một số biện pháp điều trị chuyên khoa sau được thảo luận

    + Thuốc chống đông: Nếu có tình trạng rung nhĩ. Bắt đầu truyền heparin liều 1000

    U/giờ. Dùng Warfarin sau đó 3 ngày và dùng liên tục trong vòng 3 tháng sau khi

    phục hồi lại nhịp xoang

    + Corticoid: Không có bằng chứng rõ rệt chứng minh hiệu quả của việc sử dụng

    corticoid trong làm giảm quá trình chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên.

    Hydrocortisone: liều 50 mg x 6h/lần và giảm liều nhanh khi thấy có cải thiện

    trên lâm sàng. Lý do dùng corticoid trong cơn cường giáp là BN cường giáp có

    tăng nhu cầu đối với corticoid và dự trữ của thượng thận thường bị suy giảm

    + Thay máu hay lọc máu được cân nhắc ở các bệnh nhân không cải thiện triệu

    chứng sau điều trị tích cực 24-48h. (Cần thảo luận với thày thuốc chuyên khoa

    nội tiết)

    + Ngoại khoa: sau khi điều trị tốt tình trạng cường giáp

    Nguồn: Y dược Việt Nam
    Bacsi.com

  2. #2
    leduc Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Dec 2010
    Bài viết
    7

    Mặc định

    Xin cam on lucky star nhiu nhiu đã gui tư liệu quý giá. Chúc lucky star và diễn đàn ăn tết Mão zui zẻ, năm mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc và tiền tài.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •