Đái dầm là một dạng rối loạn tâm thần; biểu hiện là tiểu không kiểm soát được trong giấc ngủ. Bệnh tăng khi có sang chấn tâm lý. Một số loại thuốc có thể chữa đái dầm.



Những biện pháp không tiêu dùng thuốc
Việc bé đái dầm khiến cả mẹ lẫn bé khó chịu. Tệ hơn, bé sẽ cảm thấy xấu hổ khi nói về việc này. Để điều trị chứng đái dầm mẹ thử áp dụng một số thay đổi đơn giản trong thói quen sinh hoạt của bé nhé.
● Hạn chế lượng nước bé được uống sau bữa tối giúp giảm lượng nước tiểu sản xuất vào ban đêm. Lưu ý là mẹ hãy cho bé uống đủ nước vào ban ngày nhé.
● Đừng cho bé ăn uống những thực phẩm có chứa caffeine như cà phê, ca cao hoặc sô-cô-la vào ban đêm. Ngoài ra, mẹ cũng đừng cho bé uống nước ngọt hoặc những thức uống có hương vị nhân tạo như soda.
● Hãy tập cho bé thói quen đi vệ sinh “đúng giờ”. Nếu bé nói không mắc tiểu, mẹ hãy khuyến khích bé đi theo đúng lịch. Mẹ cho bé đi vệ sinh ít nhất hai lần trong hai giờ trước khi đi ngủ nhé.
● Cho bé uống đủ nước để tránh tình trạng bé quá khát. Luôn chuẩn bị sẵn cho bé một chai nước để bé uống khi khát.
● Đừng đánh thức bé dậy đi tiểu vào ban đêm vì điều này sẽ khiến bé mất ngủ.
● Mẹ hãy trò chuyện với bé về tình trạng đái dầm của bé. Cả mẹ và bé hãy cùng nhau suy nghĩ để tìm ra giải pháp tối ưu khắc phục tình trạng này.
● Khen ngợi nếu bé có tiến bộ nhưng đừng phạt bé nếu tình trạng đái dầm vẫn không được cải thiện.
● Suy nghĩ tích cực và trấn an bé là một phương pháp hữu ích cho những bé lớn để đối phó với tình trạng này.

Các thuốc thường sử dụng

Ngoài thay đổi chế độ sinh hoạt thì các loại thuốc mà bé có thể tiêu dùng để cải thiện tình trạng đái dầm đêm như sau:
Những thuốc chống trầm cảm 3 vòng như amitriptyline, imipramine hoặc nortriptyline có thể điều trị thành công nhiều trường hợp đái dầm, nhưng thường đòi hỏi phải điều trị kéo dài, có thể tới 3 tháng. Tác dụng của thuốc thường chỉ được duy trì trong thời gian điều trị, sau lúc ngưng sử dụng thuốc, hiện trạng đái dầm thường tái phát ở hầu hết trẻ. Thuốc mang 1 số tác dụng phụ, thường gặp nhất là gây ngầy ngật, mỏi mệt, quấy khóc, rối loạn giấc ngủ, kích ứng dạ dày, thỉnh thoảng có thể gây nhịp tim nhanh, tụt huyết áp, co giật... nhất là ở con nít. Do đó, việc dùng các thuốc chống trầm cảm 3 vòng để điều trị đái dầm ở con nít có thể gặp cạnh tranh.
Imipramine hydrochloride là thuốc chống trầm cảm 3 vòng được dùng rộng rãi nhất để điều trị đái dầm. Cơ chế tác dụng của thuốc này trong điều trị đái dầm được cho là do tác dụng kháng cholinergic, chống bài niệu và các tác động khác trên hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, cơ chế chuẩn xác của thuốc còn chưa được khẳng định.
Một thuốc khác cũng có thể được sử dụng để điều trị hiện tượng đái dầm là desmopressin acetate. Đây là một dẫn chất tổng hợp của hormon chống bài niệu, có tác dụng giảm lượng nước giải về đêm. Thuốc tác dụng tốt nhất là ở những người có tăng số lượng nước giải về đêm vượt quá sức chứa của bàng quang. Desmopressin khởi phát tác dụng nhanh nên có thể sử dụng ngắn ngày. Bên cạnh đó, tác dụng của thuốc cũng thường hết nhanh sau khi ngưng dùng thuốc.
Một số nghiên cứu cho thấy, tác dụng của desmopressin và những thuốc chống trầm cảm 3 vòng trong điều trị đái dầm là tương đương nhau. Tác dụng phụ thường gặp nhất của desmopressin là gây kích ứng và chảy máu mũi lúc dùng đường nhỏ mũi, xảy ra ở khoảng 1-5% số bệnh nhân tiêu dùng thuốc, co giật và hôn mê là những tác dụng phụ rất hiếm gặp. Có thể cân nhắc sử dụng 1 liều phải chăng của các thuốc lợi tiểu như furosemid, hypothiazid, uống vào buổi trưa để giảm bớt lượng nước giải bài tiết về đêm. Oxybutynin chlorid, một thuốc kháng cholinergic cũng đã được thí điểm trong điều trị đái dầm ở con trẻ. Các nghiên cứu cho thấy, tác dụng của thuốc chỉ rõ rệt ở các trẻ có bất ổn ở bàng quang. Hiệu quả của thuốc cũng được tăng cường khi sử dụng phối hợp với desmopressin. Tác dụng phụ của thuốc xảy ra ở khoảng 17% các trường hợp, thường gặp nhất là nhịp tim nhanh, khô miệng, khô mắt.
Đái dầm thường là một hiện tượng sinh lý ở con nhỏ, ít lúc đòi hỏi phải điều trị. ngày nay, những cách thức điều trị đái dầm nói chung mang hiệu quả ko hằng định và thường tái phát nhanh sau lúc ngưng điều trị.