Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    LittleTiger's Avatar
    LittleTiger Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    325

    Cool Hướng dẫn chọn lựa và sử dụng đúng cách các thuốc điều trị các bệnh mắt phổ biến

    Hướng dẫn chọn lựa và sử dụng đúng cách
    các thuốc điều trị các bệnh mắt phổ biến




    ThS. BS. Võ Thị Hoàng Lan

    Đại học Y Dược TP.HCM



    Người ta thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn“ vì Mắt không chỉ thể hiện tâm trạng, cảm xúc của một người khi vui, buồn, lo lắng, ưu tư hay tức giận mà còn là nơi đầu tiên mà mỗi người tiếp xúc với xã hội thông qua việc nhìn, ngắm và phản ứng với mọi thứ xung quanh. Hàng ngày, Mắt phải điều tiết rất nhiều trong quá trình làm việc của mỗi người chẳng hạn như nhìn vào màn hình vi tính, xem tivi, hoặc tiếp xúc với rất nhiều tác nhân từ môi trường như khói, bụi, vi khuẩn, virus, các hóa chất độc hại… Vì vậy, ở mắt cũng thường gặp rất nhiều bệnh lý phổ biến như:

    · Đục thuỷ tinh thể

    · Viêm kết mạc

    · Viêm giác mạc

    · Hội chứng khô mắt

    A. CÁC BỆNH MẮT PHỔ BIẾN:

    I. ĐỤC THUỶ TINH THỂ (Đục TTT) (cườm khô):


    Đục TTT là nguyên nhân gây mù hàng đầu trên thế giới. Tại VN, đục TTT chiếm 4.53% dân số, trong đó 93% đục TTT là ở người có tuổi, 4.87% đục TTT do bệnh lý.

    + Các dấu hiệu mà người bệnh cảm thấy:

    - Nhìn mờ dần như qua màng sương, hay có đốm đen trước mắt.

    - Mắt khó chịu khi thay đổi ánh sáng chiếu vào mắt.

    - Giảm độ kính lão nhưng nhìn xa mờ.

    - Nếu có ĐỎ, ĐAU ® có thể đục TTT đã gây biến chứng thành CƯỜM NƯỚC.

    + Khám thấy: ĐỒNG TỬ TRẮNG là triệu chứng chính khi đục TTT gần hoàn toàn hay hoàn toàn.

    + Nguyên nhân:

    Có nhiều giả thuyết đối với tình trạng đục TTT do tuổi già như:

    o Thuyết Quinoid (Nhật): Gốc SH của Protéin tan của TTT bị thoái hóa làm cho nồng độ Protéin không tan tăng lên gây ra đục TTT.

    o Tia cực tím gây biến thể Protéin của TTT.

    o Chế độ ăn uống giàu Protéin góp phần giảm tỷ lệ đục TTT.

    + Điều trị:

    a. Bằng thuốc:

    Điều trị bằng thuốc nhằm làm chậm sự phát triển của TTT đã bị đục

    - Các thuốc có thể được dùng cho mục đích này như: Quinax, Kary-Uni, Catacol, Vitreolent , Catastat: dùng 4 lần /ngày

    - Chế độ ăn giàu dinh dưỡng

    - Mang kính đeo mắt có khả năng lọc tia tử ngoại

    b. Bằng phẫu thuật: phẫu thuật đục TTT được chỉ định khi tình trạng nhìn mờ gây ảnh hưởng đến chất lượng sống và lao động của người bệnh.

    Tóm lại: Đục TTT là nguyên nhân gây mù hàng đầu trong các bệnh về mắt nhưng có thể điều trị được và sau điều trị thì người bệnh vẫn có khả năng nhìn như bình thường. Do đó, cần thiết phải dến BS mắt khám để có quyết định điều trị đúng đắn và hợp lý.

    II. VIÊM KẾT MẠC (VKM):

    Kết mạc là phần niêm mạc phủ mặt sau mí mắt và phủ mặt trước của tròng trắng. Bệnh viêm kết mạc là bệnh thường gặp nhất ở các phòng khám mắt

    + Các dấu hiệu mà người bệnh cảm thấy:

    Có thể gặp ở 1 hoặc 2 mắt:

    o Cảm giác cộm,nóng, ngứa, nặng mi

    o Khó chịu như có vật lạ rơi vào trong mắt

    o Chảy nước mắt, sợ ánh sáng

    o ĐỎ mắt

    o ĐAU: khi có biến chứng vào tròng đen

    Chú ý: VKM đơn thuần chưa lan tới tròng đen thì không có triệu chứng nhìn mờ

    + Khám thấy:

    o Có ghèn (nhử mắt),nhất là vào buổi sáng khiến cho lông mi bị dính lại không mở mắt ra được.

    o Phù kết mạc nhãn cầu: phần tròng trắng mọng nước và lồi ra ngoài.

    o Giãn mạch: đỏ mắt ở kết mạc mi và cùng đồ, giảm dần khi tới rìa.

    VKM thường tiến triển lành tính và không để lại di chứng.

    + Các dạng VKM:

    a. VKM DỊ ỨNG:
    VKM kéo dài hay tái phát do dị ứng phấn hoa, thuốc, thời tiết.

    b. Viêm giác - kết mạc bọng: thường là biểu hiện của lao, có các dấu hiệu sau:

    - Nôt phỏng ở kết mạc, thường ở vùng giáp giữa tròng đen và tròng trắng.

    - Là những nốt nhỏ màu vàng nhạt nổi lên ở tròng trắng & di động.

    c. VKM mùa xuân:

    - Là bệnh hai mắt, đặc điểm là ngứa và sợ ánh sáng theo mùa.

    - Bệnh giảm dần cho tới tuổi trưởng thành, nhưng không khỏi hoàn toàn.

    - Bệnh kéo dài gây sẹo xơ hóa kết mạc không hồi phục.

    + Biến chứng:

    Khi có ĐAU, ĐỎ, NHÌN MỜ nhiều hơn, phải nghĩ đến bệnh đã nặng thêm, gây ra Viêm Giác mạc chấm nông hay Viêm Giác mạc biểu mô, Viêm Giác mạc dưới Biểu mô…

    + Điều trị:


    - Rửa mắt bằng dung dịch nước muối sinh lý NaCl 0.9% nhiều lần để loại bỏ các chất gây dị ứng.

    - Dùng thuốc kháng histamin đường uống và dạng dịch nhỏ mắt như: Col. Opticron, PATANOL, Alegysal, Cromal…

    - Dùng các thuốc nhỏ mắt không có corticoides như: Indocollyre, Naclof.

    Chú ý: Các thuốc nhỏ mắt có Corticoides chỉ được dùng khi:

    o Có cơn cấp: vì thuốc có hiệu quả tác dụng trong thời gian ngắn.

    o Không sử dụng khi nghi ngờ bị tổn thương ở tròng đen.

    o Theo dõi nhãn áp (vì có thể gây tăng nhãn áp mắt) và thủy tinh thể (gây đục thủy tinh thể) khi điều trị dài ngày.

    + Các thuốc kháng sinh chính có tác dụng tại chỗ:

    - Chloramphénicol thuốc nước 0,4%

    - Néomycine 0,35%: ít gây dị ứng

    - Gentamycine thuốc nước và thuốc mỡ 0,3%

    - Tobramycine thuốc nước 0,3%: an toàn cho trẻ con

    - Ciprofloxacine, Lomefloxacine, Ofloxacine có phổ tác dụng rộng

    - Vigamox là quinolone thế hệ thứ 4 có phổ tác dụng rộng, ít kháng thuốc.

    ”Sử dụng kháng sinh tại chỗ bừa bãi có thể gây loạn khuẩn tại mắt ® nhiễm nấm mắt, nhiễm siêu vi tại mắt”

  2. #2
    LittleTiger's Avatar
    LittleTiger Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    325

    Mặc định

    III. VIÊM LOÉT GIÁC MẠC:

    Giác mạc là thành phần trong suốt cuả mắt chúng ta, còn gọi là tròng đen. Viêm loét GM là bệnh mắt phổ biến ở các nước thuộc thế giới thứ ba.. Ở nước ta, mù do di chứng của Viêm loét giác mạc đứng hàng thứ hai, sau đục TTT, và tác nhân gây bệnh rất đa dạng: vi khuẩn, nấm, siêu vi khuẩn.

    + Các dấu hiệu mà người bệnh cảm thấy:

    - Lúc đầu mắt cộm, xốn, cảm giác như có dị vật dưới mi.

    - ĐAU lan ra cả hốc mắt

    - ĐỎ MẮT

    - NHÌN MỜ

    - Sợ sáng và chảy nước mắt, mi co quắp khi nhìn ra ánh sáng.

    + Các dấu hiệu khi khám:


    - Mi sưng

    - Tròng trắng đỏ bầm, nhỏ thuốc co mạch không giảm

    - Các tổn thương ở tròng đen

    - Thẩm lậu quanh vết loét màu xám, mờ đục

    - Nhuộm Fluorescéine có những dạng đặc trưng. Có thể có mủ ở những phần sâu của mắt, gây ra những di chứng trầm trọng.

    + Điều trị:


    a. Nội khoa: dùng thuốc điều trị toàn thân và tại chỗ.

    Tiêu chuẩn chọn thuốc:

    - Sự thấm thuốc vào tổ chức bệnh

    - Sự nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh với thuốc.

    - Không hoặc ít tác dụng phụ.

    Tùy theo tác nhân mà thuốc được chọn lựa khác nhau như:

    - Vi trùng: theo kết quả cấy vi trùng và kháng sinh đồ

    - Nấm: Amphotericine B, Natamycin, Fluconazole

    - Siêu vi HERPES: Acyclovir (thế hệ 2)

    b. Ngoại khoa:

    Ghép giác mạc là phương pháp có tính chất dứt khoát nhưng khó thực hiện vì không có ngân hàng giác mạc. Ghép giác mạc nhằm lấy lại thị lực hay bảo tồn nhãn cầu khi có thủng hay sắp thủng giác mạc.

    Chú ý:


    o Vai trò của Dược sĩ, người bán thuốc: phát hiện sớm, tư vấn sử dụng các loại thuốc nhỏ mắt đúng và không bán các loại thuốc có Corticoides cho bệnh nhân khi không có toa bác sĩ.

    o Vai trò của BS NHÃN KHOA: trị sớm, chính xác, tích cực nhằm loại bỏ ngay những ổ nhiễm trùng ở mắt.

    IV. HỘI CHỨNG KHÔ MẮT:

    + Biểu hiện của khô mắt:

    · Bệnh nhân thường than phiền về những triệu chứng sau:

    - Mỏi mắt: thường xuất hiện khi người bệnh đọc sách báo lâu, xem truyền hình lâu, có khi khiến bệnh nhân phải nhắm mắt lại, ngưng làm việc.

    - Rát mắt nhất là khi bị gió thổi vào mắt

    - Ngứa mắt

    - Đỏ mắt: ít hay nhiều tuỳ theo mức độ khô mắt nhẹ hay nặng.

    - Chảy nước mắt: thường là nước mắt trong suốt mỗi khi làm việc bằng mắt.

    - Giảm khả năng tập trung về mắt.

    · BS Nhãn khoa sẽ xác định tình trạng này bằng:

    - Đo lượng nước mắt BN tiết ra trong 5 phút (test SCHIRMER)

    - Đo thời gian nước mắt bị bay hơi (test Break-up-time)

    - Ghi nhận những biểu hiện khô mắt trên tròng đen và tròng trắng qua các thuốc nhuộm như ROSE BENGAL và FLUORESCEIN

    - Ghi nhận tình trạng bệnh lý của mi mắt, của tròng trắng

    + Các yếu tố nguy cơ cuả khô mắt:

    - Lớn tuổi

    - Giới tính: nữ bị khô mắt nhiều hơn nam

    - Làm việc tập trung bằng mắt cao độ hay kéo dài: sử dụng máy vi tính, nhìn qua kính hiển vi, chơi trò chơi điện tử.

    - Làm việc trong môi trường có độ ẩm không bình thường

    - Các bệnh lý về da, khớp, bướu cổ

    - Một số thuốc chống dị ứng, thuốc trị bệnh tim mạch, chống cườm nước...

    Khi có những triệu chứng trên, có thể bệnh nhân sẽ tự dùng thuốc, hay đến nhà thuốc để hỏi ý kiến của người bán thuốc. Số bệnh nhân còn lại sẽ đến phòng khám mắt. Nếu chưa có điều kiện đến khám tại BS chuyên khoa mắt, có những việc mà người bệnh nên làm:

    · Đầu tiên là thay đổi thói quen làm việc bằng mắt, bố trí lại màn hình máy vi tính.

    · Nếu đang dùng 1 loại thuốc để trị bệnh dài hạn, nên hỏi ý kiến BS điều trị về tác dụng phụ của thuốc đối với các dấu hiệu khó chịu của mắt như đã nêu trên.

    + Điều trị khô mắt:


    - Chúng ta có thể dùng nước mắt nhân tạo để bổ sung cho lượng nước mắt tự nhiên của chúng ta bị thiếu hụt hay bay hơi quá nhanh.

    - Hiện nay có rất nhiều loại nước mắt nhân tạo trên thị trường Việt Nam với dạng dung dịch nhỏ mắt như: Tears Naturale II, Polytear, Refreshtear, Sanlein, Moisture eye… Hay loại có độ nhày cao như Lacrinorme gel (dùng vào buổi tối). Hiện nay có Systane là dịch nhày dùng để nhỏ mắt có thể thay đổi độ nhày cho từng đối tượng mà không ảnh hưởng đến thị lực.

    - Nên chọn loại nước mắt nhân tạo có thành phần gần như nước mắt tự nhiên nhất và nên điều trị liên tục.

    B. CÁC DẤU HIỆU KHÓ CHỊU Ở MẮT, BẮT BUỘC PHẢI ĐẾN BÁC SĨ:


    - Khi mắt bị viêm nhiễm nặng thường biểu hiện bằng các triệu chứng: ĐỎ, ĐAU, NHÌN MỜ.

    - Trong đó triệu chứng đau và nhìn mờ là có giá trị hơn; đặc biệt là triệu chứng nhìn mờ thường gặp trong các bệnh nặng và dễ để lại di chứng là mờ mắt vĩnh viễn.

    - Nếu khi dùng thuốc 1-2 tuần mà tình trạng khó chịu trên không cải thiện, có thể là ta đã dùng thuốc không đủ hay không đúng chỉ định. Nên ngưng thuốc nhỏ mắt ngay. Tốt hơn hết, chúng ta nên khuyên bệnh nhân đến BS chuyên khoa mắt để xác định tình trạng mắt của họ. Việc tự ý điều trị có khi gây nên những hậu quả đáng tiếc./.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •