Phẫu thuật LASIK đã được thực hiện trên thế giới từ cách đây 10 năm. Ở Hoa kì, phẫu thuật này bắt đầu được nghiên cứu lâm sàng từ năm 1991. Sau khi được chính thức cho phép áp dụng trên người, phẫu thuật này đã trở thành một phẫu thuật khúc xạ được thực hiện rộng rãi nhất. Cho đến nay, hàng triệu người trên khắp thế giới đã không còn phụ thuộc vào các loại kính mắt nhờ phẫu thuật LASIK.

LASIK là gì?

LASIK (viết tắt của Laser In-situ Keratomileusis) là một phẫu thuật điều chỉnh khúc xạ của mắt trong đó dùng chùm tia laser excimer cắt gọt sửa lại hình dạng giác mạc theo những thông số đã định. Phẫu thuật LASIK có thể điều chỉnh được tất cả các loại tật khúc xạ cận thị, viễn thị, và loạn thị.

Phẫu thuật LASIK đã được thực hiện trên thế giới từ cách đây 10 năm. Ở Hoa kì, phẫu thuật này bắt đầu được nghiên cứu lâm sàng từ năm 1991. Sau khi được chính thức cho phép áp dụng trên người, phẫu thuật này đã trở thành một phẫu thuật khúc xạ được thực hiện rộng rãi nhất. Cho đến nay, hàng triệu người trên khắp thế giới đã không còn phụ thuộc vào các loại kính mắt nhờ phẫu thuật LASIK.

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều loại máy laser excimer dùng cho phẫu thuật LASIK. Hệ thống laser excimer tiên tiến nhất hiện nay là máy LADARVision® của hãng Alcon (Hoa kì) với nhiều ưu điểm nổi trội: (1) hệ thống định vị mắt bằng radar có khả năng theo dõi chuyển động của mắt kiểu vòng kín liên tục 4000 lần trong một giây, nhờ đó có thể hướng chùm tia laser chính xác vào vị trí đã định trên giác mạc; (2) chùm tia laser quét đường kính nhỏ (dưới 1 mm) cho phép cắt gọt chính xác tạo ra bề mặt giác mạc rất nhẵn và đều đặn, do đó giảm thiểu loạn thị phát sinh; (3) kết hợp với thiết bị đo mặt sóng LADARWave®, máy LADARVision® có thể điều chỉnh chính xác những bất thường ở bề mặt giác mạc trên từng bệnh nhân cụ thể, nhờ đó điều chỉnh được các dạng quang sai bậc cao và cải thiện chất lượng thị lực sau phẫu thuật.

Chỉ định của phẫu thuật LASIK

Phẫu thuật LASIK dùng để chỉnh 3 loại tật khúc xạ của mắt: cận thị, viễn thị, và loạn thị. Máy LADARVision® được chỉ định thích hợp nhất cho các mức độ khúc xạ sau:

Cận thị từ -0,5 điốp đến -15 điốp , loạn thị từ -0,5 điốp đến -5 điốp.

Viễn thị đến +6,00 điốp

Loạn thị hoặc kèm theo cận , viễn đến -6,00 điốp.

Yêu cầu đối với bệnh nhân mổ Lasik :

Trên 18 tuổi .

Phải có độ khúc xạ đã ổn định trong vòng 12 tháng trước mổ (độ cận thị thay đổi không quá 0.5 điốp đối với cận dưới 8 điốp và thay đổi không quá 1 điốp đối với cận trên 8 điốp).

Chống chỉ định của phẫu thuật LASIK

Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con bú.

Người bị bệnh giác mạc hình chóp.

Người đang dùng một số loại thuốc có ảnh hưởng đến mắt, thí dụ: Accutane, Cordarone.

Người bị bệnh colagen mạch máu, bệnh tự miễn, hoặc suy giảm miễn dịch, thí dụ bệnh AIDS, bệnh lupút, bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh xơ cứng rải rác, bệnh nhược cơ.

Người mắc một số bệnh khác: đái tháo đường, dị ứng nặng, viêm giác mạc do vi rút herpes

Những trường hợp sau vẫn có thể phẫu thuật nhưng cần thận trọng:

Người có bệnh đái tháo đường

Người bị dị ứng nặng

Người đã từng bị bệnh herpes, zona mắt

Các khám nghiệm trước phẫu thuật

Để được phẫu thuật LASIK, bạn cần phải tới đăng kí ở cơ sở phẫu thuật. Tại đây, bạn có dịp trao đổi cụ thể với các bác sĩ để hiểu rõ mọi vấn đề liên quan đến phẫu thuật: khả năng kết quả sau mổ, thời gian hồi phục thị lực, tính an toàn của phẫu thuật, yêu cầu chăm sóc mắt trước mổ, trong mổ, và sau mổ, và chi phí phẫu thuật. Sau đó, bác sĩ sẽ khám mắt và làm tất cả các xét nghiệm cần thiết để xác định xem bạn có thích hợp cho phẫu thuật LASIK không. Các khám nghiệm chính bao gồm:

Đo thị lực và khúc xạ: Cho biết loại tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) và mức độ (bao nhiêu điốp).

Đo nhãn áp: Để phát hiện bệnh glôcôm

Ghi bản đồ khúc xạ giác mạc: Ghi lại khúc xạ của giác mạc ở rất nhiều điểm và lập bản đồ khúc xạ giác mạc trước và sau mổ.

Siêu âm: Phát hiện bất thường bên trong mắt và đo trục nhãn cầu.

Đo độ dày giác mạc: Để tính mức độ cho phép điều chỉnh phẫu thuật.

Đếm số lượng tế bào nội mô giác mạc: Để đánh giá tình trạng giác mạc trước và sau mổ.

Đo độ nhạy cảm tương phản: Đánh giá khả năng nhìn của mắt trong những điều kiện ánh sáng khác nhau và ảnh hưởng của LASIK đối với khả năng nhận biết tương phản

Đo độ cong giác mạc: Để đánh giá khúc xạ của giác mạc.

Khám sinh hiển vi: Đánh giá tình trạng giác mạc, thường làm trước mổ và mỗi lần khám lại sau mổ
Ngoài các khám nghiệm về mắt ở trên, bệnh nhân còn được làm một số xét nghiệm máu cơ bản và khám loại trừ các bệnh toàn thân.

Quá trình phẫu thuật


Phẫu thuật không đòi hỏi gây mê và cũng không cần tiêm bất kì một loại thuốc gây tê nào. Trước khi vào phòng mổ, bệnh nhân được nhỏ mắt bằng 2 loại thuốc: thuốc làm giãn đồng tử và thuốc gây tê tại mắt.
Trong phòng mổ, bệnh nhân được đặt nằm trên giường máy, đầu được đặt cố định và được yêu cầu luôn giữ cho mắt nhìn cố định vào một đèn đỏ ở thân máy phía trên.

Sau khi sát trùng quanh mi mắt và nhỏ thuốc tại mắt, bác sĩ phẫu thuật dùng vài dải băng dính nhỏ dán ngoài mi để cách li các lông mi khỏi phẫu trường rồi đặt một vành mi vào mắt để mở rộng khe mi bộc lộ rộng giác mạc. Lúc này bệnh nhân sẽ cảm thấy mi mắt hơi bị căng ra.

Bác sĩ phẫu thuật đặt một vòng hút chân không tạo ra một áp lực đủ mạnh để giữ cố định giác mạc. Tiếp đó, dao cắt vạt giác mạc được đặt vào vòng hút để cắt một lớp giác mạc rất mỏng. Thời gian tạo vạt giác mạc không quá 30 giây, trong lúc này bệnh nhân có thể cảm thấy hơi căng ở mắt. Sau đó vòng hút và dao cắt vạt giác mạc được tháo ra.

Vạt giác mạc được lật lên, quá trình tạo hình dạng giác mạc bằng tia laser diễn ra trong thời gian không quá 1 phút. Trong thời gian này, bệnh nhân cần phối hợp tốt với bác sĩ phẫu thuật bằng cách luôn giữ cho mắt cố định và nhìn vào đèn đỏ. Sau khi tiến hành laser, nền giác mạc được rửa sạch và vạt giác mạc được đặt trở lại vị trí cũ.

Bệnh nhân nghỉ tại chỗ trong thời gian 15-20 phút, sau đó bác sĩ phẫu thuật sẽ kiểm tra lại xem vạt giác mạc đã dính lại chưa. Nếu tình trạng tốt, bệnh nhân sẽ được hướng dẫn nhỏ thuốc mắt, đeo kính bảo vệ mắt và về nhà ngay.

Bệnh nhân hoàn toàn không có cảm giác đau trong suốt quá trình phẫu thuật. Trong vòng vài giờ sau phẫu thuật, nhiều bệnh nhân cảm thấy mắt hơi khó chịu và xót giống như mở mắt trong khi bơi ở bể bơi nước có nhiều thuốc sát trùng clo. Cảm giác khó chịu này thường giảm dần sau vài giờ.

Chăm sóc sau phẫu thuật

Trong ngày đầu phẫu thuật, bệnh nhân nên nghỉ ngơi, nhắm mắt và tuyệt đối không được dụi mắt để tránh làm cho vạt giác mạc xô lệch tạo ra những vết nhăn có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Sau 12 đến 24 giờ, bệnh nhân đã có thể thấy mắt nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, trong 2-3 ngày sau mổ, bệnh nhân vẫn có thể có cảm giác mắt hơi cộm.

Cần nhớ dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt chính: kháng sinh kết hợp corticosteroid (để làm giảm phản ứng viêm sau mổ) và nước mắt nhân tạo để làm dịu cảm giác khô mắt.

Sau mổ 1 tuần, thị lực có thể hồi phục như bình thường. Tuy nhiên, khúc xạ của mắt chỉ hoàn toàn ổn định sau thời gian 2-3 tháng.

Tìm hiểu chi tiết hơn tại: http://www.benhvienmat.com.vn/Story....one=53&ID=2993