Chăm sóc mắt

Ðôi khi chúng ta tự hỏi "không biết mắt mình bị bệnh gì!" vì cảm thấy rất khó chịu. Nhưng may mắn cho chúng ta là có nhiều bệnh mắt thông thường sẽ tự khỏi mà không cần phải chữa trị hay có thể tự điều trị. Nhiều loại thuốc về mắt từ nước mắt nhân tạo và thuốc mỡ bôi mắt đến thuốc chống xung huyết mắt đã được bán dưới dạng OTC. Những loại thuốc này có thể giúp điều trị chứng khô mắt, ngứa hay chảy nước mắt sống. Tuy nhiên trong một vài trường hợp cần phải cảnh giác vì bệnh có thể nặng hơn và có thể dẫn đến mù lòa.

Nhiều loại OTC giúp tự điều trị bệnh mắt an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên trước khi quyết định tự điều trị cần phải xem xét 2 yếu tố quan trọng là:

1. Các rối loạn liên quan đến nhãn cầu thì cần phải đến bác sĩ.

2. Nếu đã sử dụng các thuốc mắt dạng OTC 72 giờ mà không có cải thiện hay bị nặng hơn thì cũng cần phải gặp bác sĩ ngay.

Ðể có thể tự điều trị những bệnh mắt thông thường với các thuốc dạng OTC thì người sử dụng cần phải biết:

1. CấU trúc của mắt.

2. Các nguyên nhân gây ra bệnh.

3. Những nguyên nhân nào có thể tự điều trị, loại nào cần phải thăm khám bởi bác sĩ.

4. Các loại OTC có mặt trên thị trường, mỗi loại có tác dụng điều trị những bệnh nào.

Những bệnh lý nào của mắt (đôi khi) có thể tự điều trị?

- Viêm mí mắt: Viêm mí mắt là khi mí mắt bị viêm đỏ, đóng vảy và dày lên, một số trường hợp điển hình còn có mất lông mi. Viêm mí mắt có thể do tụ cầu hoặc do viêm da không vô căn hoặc phối hợp cả hai. Triệu chứng chính là ngứa mắt và có cảm giác nóng bỏng trong mắt. Viêm mí mắt được điều trị ban đầu bằng cách chườm nóng và sau đó là chất tẩy rửa mí mắt có bọt. Nếu vẫn không khỏi thì phải đến bác sĩ và có thể bác sĩ sẽ cho thuốc kháng sinh.

- Rận mắt: Mí mắt có thể bị nhiễm một hay hai loại chí rận khác nhau là rận cua (rận mu) hay chí đầu. Rận mí mắt có các triệu chứng và dấu hiệu giống viêm mí mắt (đỏ, đóng vảy, dày mí mắt và thường rụng lông mi). Các loại mỡ bôi (pô-mát) không chứa thuốc được bôi vào mắt và làm chết trứng rận. Các loại thuốc như RID, NIX, A-200 hay một số loại thuốc khác dùng cho tóc không nên sử dụng gần mắt.

- Viêm da tiếp xúc: Viêm da tiếp xúc là tình trạng viêm của da gây ra sưng phù, xơ sẹo hay đỏ mí mắt và ngứa rất nhiều. Tình trạng này thường xuất hiện sau khi sử dụng các sản phẩm mới như xà phòng, kem mỹ phẩm,vv. hoặc tiếp xúc với các chất lạ. Nếu cả hai mí đều bị ảnh hưởng thì nguyên nhân thường gặp là do dị ứng. Trong trường hợp này có thể uống thuốc chống dị ứng.

- Các chất lạ rơi vào mắt: Khi bụi, lông mi hay các chất lạ bị kẹt trong mắt mà không thể dùng tay, nước hay các dung dịch nhỏ mắt thì cần phải đến bác sĩ ngay.

- Tổn thương do nhiệt: Tổn thương do nhiệt ở đây là bỏng mắt. Tiếp xúc với tia bức xạ cực tím khi hoạt động ngoài trời là một dạng tổn thương mắt do nhiệt ở mức độ nhẹ. Có thể dùng chất bôi trơn để bôi lên mắt. Nếu sau 24 giờ mà triệu chứng không giảm thì cần phải gặp bác sĩ. Nếu tổn thương do hồ quang (của thợ hàn) thì cần phải gặp bác sĩ ngay lập tức.

- Viêm kết mạc: Vi trùng, vi khuẩn, các tác nhân gây dị ứng hay gây viêm có thể gây ra viêm kết mạc mí mắt và viêm kết mạc hành. Tình trạng viêm làm phì đại các mạch máu kết mạc (xung huyết kết mạc) và làm kết mạc bị đỏ (có điểm-máu). Tình trạng này có thể đi kèm ngứa mắt. Xung huyết và ngứa có thể điều trị bằng thuốc chống xung huyết mắt nhưng cần phải điều trị nguyên nhân gốc.

- Chứng lẹo mắt: Lẹo mắt là tình trạng viêm các tuyến nằm trong mí mắt. Dấu hiệu đầu tiên của lẹo là một nốt mềm lồi trên mí mắt. Ðôi khi mí mắt bị sưng phồng đến độ làm che bít cả mắt. Lẹo thường do cùng một loại vi trùng gây viêm mí mắt gây ra. Ðiều trị bằng cách chườm nóng vài lần mỗi ngày nhưng nếu tình trạng xấu hơn và không hết sau 1 tuần thì cần phải đến bác sĩ. Bác sĩ có thể cho kháng sinh để điều trị.

- Chắp mắt: Chắp nhìn cũng tương tự như lẹo. Chắp là một nốt lồi nhưng không mềm như lẹo. Cũng giống như lẹo, chắp được điều trị bằng cách chườm nóng. Nếu bệnh vẫn không khỏi thì phải đi khám bác sĩ.

Bệnh mắt nào cần phải đến bác sĩ điều trị?

- Chấn thương mắt: Chấn thương tù (không sắc nhọn) của mắt cần phải được bác sĩ nhãn khoa đánh giá. Chấn thương mắt có thể gây chảy máu từ các mạch máu bị vỡ vào mắt và có thể gây bong võng mạc. Cả hai loại tổn thương này đều có thể ảnh hưởng trầm trọng đến võng mạc.

- Trầy xướt mắt: Trầy xướt thường xảy ra khi móng tay hay vật lạ bằng kim loại cọ sát vào giác mạc hay kết mạc. Tổn thương này dễ gây nhiễm trùng hay nhiễm nấm.

- Rơi hóa chất vào mắt: Các chất như dung dịch lau chùi nhà, nước hoa khi ray vào mắt cần phải đến bác sĩ khám tức thì mặc dù có thể sơ cứu ban đầu bằng nước.

- Lồi giác mạc: Lồi giác mạc hay phù giác mạc là một tình trạng trong đó dịch tích tụ trong giác mạc. Phù gây ra rối loạn thị giác như mắt có quầng hay nổ đom đốm. Giảm thị lực đôi khi có thể xảy ra. Nguyên nhân của lồi giác mạc có thể do đeo kính sát tròng (contact lene), do phẫu thuật làm tổn thương giác mạc hoặc có thể do khiếm khuyết di truyền. Có thể sử dụng dung dịch có nồng độ thẩm thấu cao để điều trị lồi giác mạc nhưng cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ để điều trị thêm.

- Viêm màng bồ đào: là tình trạng viêm các cấu trúc trong màng bồ đào (mống mắt và các cấu trúc khác trong mắt mà mống mắt bám vào). Viêm màng bồ đào có thể xảy ra tự phát (không do nguyên nhân nào rõ ràng) hay có thể xảy ra sau chấn thương hay viêm một bộ phận nào đó của cơ thể. Triệu chứng của viêm màng bồ đào tương tự như viêm kết mạc hay giác mạc.

- Tăng nhãn áp (Glaucoma) góc đóng: rối loạn này thường xuất hiện sau khi sử dụng thuốc dãn đồng tử để khám mắt. Tăng nhãn áp góc đóng là do tắc nghẽn hệ thống ống dẫn lưu dịch từ bên trong mắt. Hậu quả là dịch bị tích tụ và áp suất trong mắt gia tăng. Bệnh nhân bị bất thường cấu trúc mắt có khuynh hướng phát triển bệnh tăng nhãn áp. Triệu chứng thường gặp gồm ngứa lông mày hoặc nhức đầu đưa đến buồn nôn và nôn. Tăng nhãn áp được để ý đến khi bệnh nhân có triệu chứng gia tăng sau khi sử dụng thuốc dãn đồng tử để khám mắt.

Hiện có những loại OTC nào?

Có 7 loại OTC, mỗi loại chứa một hay nhiều chất hoạt hóa hay không bất hoạt.

1. Nước mắt nhân tạo: một chất bôi trơn - còn gọi là nước mắt nhân tạo hay nước mắt giả - là một dung dịch tổng hợp dùng để bôi trơn mắt và làm đặc nước mắt. Nước mắt nhân tạo được chế tạo dưới dạng dung dịch hòa tan hay thuốc nhỏ giọt. Thành phần bôi trơn trong nước mắt nhân tạo gồm cellulose ethers (hydroxymethylcellulose hay HPMC); polyvinyl alcohol hay PVA, povidone hay PVP và dung dịch chứa vitamin A. Các loại nước mắt nhân tạo gồm Akwa Tears (thuốc nhỏ giọt), Tears Naturale và Refresh Tears. Nước mắt nhân tạo được sử dụng 3 lần mỗi ngày.

2. Thuốc mỡ (pô-mát) hay thuốc làm mềm : thuốc mỡ cũng là chất bôi trơn. Các loại thuốc này không chứa nước là chất cơ bản và chứa các chất bôi trơn tương tự như chất đông sánh của dầu thô. Các loại thuốc này gồm: Dura Tears Naturale, Lacri-Lube và Refresh PM. Ưu điểm của loại này so với loại có chất cơ bản là nước chứa HPMC, PVA hay PVP lá nó sẽ tồn tại trong mắt lâu hơn. Chất làm mềm thường được sử dụng 2 lần/ngày.

3. Thuốc rửa mắt: thuốc này dùng để rửa và/hoặc đẩy các mảnh vụn ra khỏi mắt. Các loại thuốc này có độ a-xít và nồng độ các chất điện giải được cân bằng chính xác để không gây kích ứng cho mắt. Các thuốc rửa có thể ở dạng lỏng, dung dịch hòa tan hay thuốc nhỏ giọt. Các loại thuốc này chứa a-xít boric với sodium borate, sodium phosphate hay sodium hydroxide để duy trì độ a-xít chính xác. Các thuốc loại này gồm AK Rinse, Dacriose, Eye-Stream.

4. Thuốc có nồng độ thẩm thấu cao: Ðược dùng để điều trị lồi giác mạc. Loại thuốc này có tác dụng kéo nước ra khỏi giác mạc nên làm giảm độ sưng phồng của giác mạc. Hầu hết các loại có nồng độ thẩm thấu cao đều có chứa muối (NaCl) với nồng độ khác nhau khi ở dạng dung dịch hòa tan hay dạng mỡ. Loại dung dịch hòa tan 2% làm giảm tính châm chích hay nóng bỏng mắt hơn loại 5%. Một ví dụ thuốc loại này là Adsorbon a C.

5. Thuốc tẩy rửa tạo bọt : thuốc tẩy rửa mí mắt có bọt có lợi khi rửa các chất dầu, mảnh vụn hoặc mảnh da lỏng lẻo mà nó ảnh hưởng đến viêm mí mắt. Loại Soap PEG-200 glyceral tallowate hay PEG-80 glyceral cocoate cung cấp chất tạo bọt. Một ví dụ của loại thuốc này là Eye-Scrub.

6. OTC có thể chứa chất bôi trơn đơn độc hay chất bôi trơn kết hợp với thuốc khác như loại dung dịch nhỏ mắt có chứa thuốc. Dung dịch nhỏ mắt có chứa thuốc có thể chứa thuốc chống xung huyết hay thuốc chống dị ứng.

7. Thuốc chống xung huyết: được sử dụng để làm co rút các mạch máu phù nề trong chứng xung huyết mắt như viêm kết mạc. Phenyllephrine là thuốc thường được sử dụng cho mục đích này. Bệnh nhân bị tăng nhãn áp góc đóng phải cẩn thận khi sử dụng Phenyllephrine vì nó có thể gây ra tăng áp lực nội nhãn. Tuy nhiên, xung huyết mắt phản xạ, trong đó mạch máu vẫn còn dãn ngay cả khi vẫn còn tiếp tục sử dụng thuốc chống xung huyết, là một tác dụng phụ thường thấy của Phenyllephrine. Vì vậy, nếu tình trạng mắt đỏ hay các triệu chứng không cải thiện sau 72 giờ thì phải ngưng Phenyllephrine. Một tác dụng phụ khác thường gặp của Phenyllephrine là dãn đồng tử. Nếu Phenyllephrine từ mắt hấp thu vào cơ thể thì có thể gây tăng huyết áp mặc dù điều này hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên những bệnh nhân bị cao huyết áp phải cẩn thận khi sử dụng Phenyllephrine. Ngoài ra, nếu Phenyllephrine bị hấp thụ vào cơ thể thì những tác dụng phụ có thể xảy ra do tương tác với Atropin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng (Imipramine) và thuốc ức chế men monoamine oxidase như phenelzine sulfate (Nardil) hoặc tranylcypromine sulfate (Parnate), reserpine (Hydropres), guanethidine (Ismelin), hay methyldopa (Aldomet).