Kết quả 1 đến 4 của 4

Chủ đề: Tụ máu trong sọ

  1. #1
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,216

    Unhappy Tụ máu trong sọ

    Tụ máu trong sọ là một tổn thương quan trọng nhất vì rằng trong các loại chấn thương sọ não kín, trọng tâm là tìm khối máu tụ để giải quyết bằng phẫu thuật, tức khăc, kịp thời. Nếu không, khối máu tụ gây chèn ép vào não, các tế bào não thiếu máu, thiếu dưỡng khí và qua một thời gian nào dù có lấy được khối máu tụ, các tế bào đó sẽ không thể hồi phục được nữa. Do đó cần phải chẩn đoán được khối máu tụ thật sớm và vấn đề mổ phải thật khẩn trương.


    Người ta phân ra làm ba loại máu tụ chính:


    1. Máu tụ ngoài màng não.


    2. Máu tụ dưới màng não.


    3. Máu tụ trong não.


    Trong 3 năm rưỡi chúng tôi gặp 36 ca máu tụ trong sọ (phẫu thuật, mổ tử thi). Số máu tụ dưới màng não (19 ca) nhiều hơn số máu tụ ngoài màng não (16 ca) . Máu tụ đơn thuần trong não thật hiếm. Chúng tôi chỉ gặp 1 ca.


    Một điểm nổi bật là các tổn thương thường không đơn thuần nhưng xen kẽ lẫn nhau làm cho các triệu chứng thêm phức tạp, chẩn đoán khó. Đặc biệt trong máu tụ dưới màng não chúng tôi đã gặp những tổn thương dập não kèm theo khá quan trọng, và chính tổn thương này là chủ yếu đã gây nên tử vong. Cho nên người ta có thể phân loại thành tổn thương dập não - chảy máu mà sự điều trị rất khó khăn.


    3.1. tụ máu ngoài màng cứng


    Ø 3.1.1. Nguyên nhân


    Máu tụ ngoài màng cứng thường thấy ở thanh niên, trong khi rất hiếm ở trẻ em hoặc những người già, ở những người này, màng cứng dính chắc vào xương sọ nên khó bóc tách.


    Chảy máu ở nơi rách động mạch màng não giữa, động mạch màng não sau và trong mốt số ít ca, ở xoang tĩnh mạch. Chảy máu động mạch làm cho màng cứng bị bóc tách khỏi lớp trong của xương, điều này lại làm cho máu tĩnh mạch bị rách và máu lại chảy thêm. Ngoài ra, máu tĩnh mạch từ trong chỗ vỡ xương chảy ra có thể là nguyên nhân của chảy máu.


    Loại máu tụ ngoài màng cứng thường gặp trong 1 – 3% chấn thương sọ não và nguyên nhân của tử vong trong 5 – 15% trong chấn thương sọ não, và thường thấy ở những nạn nhân trẻ tuổi.


    Thường gặp nhiều nhất là khoảng 50 – 60% ở vùng thái dương, ở đây có động mạch màng não giữa. Khi rách màng cứng lan tới xoang tĩnh mạch bên thì máu tụ thường lan lên trên và cả dưới lều tiểu não.


    Ø 3.1.2. Chẩn đoán


    Triệu chứng đặc biệt nhất là khoảng tỉnh. Trong thời gian này thì đau đầu nôn mửa, chóng mặt, lơ mơ dần, phản ứng giảm. Một nạn nhân bị chấn thương sọ não, chỉ có mất ý thức ngắn hạn và người nhà để cho bệnh nhân ngủ thì sáng hôm sau đến đã thấy chết rồi vì rằng máu tụ ngoài màng cứng phát triển ban đêm mà không có nhân viên y tế theo dõi là một điều đáng tiếc.


    Nói về triệu chứng thì ngoài rối loạn về tri giác ta có thể thấy những thay đổi bất thường của đồng tử: 90% có dãn đồng tử ở bên có máu tụ, thường ở vùng thái dương đỉnh.


    Có vết thương ở da đầu thường có máu tụ ngoài màng cứng trong 70% ca. Chảy máu ở tai thường cũng thấy máu tụ cùng bên trong 25%. Đau đầu cũng thấy cùng bên với máu tụ trong 1/3 hay 1/2 các ca. Bệnh nhân bị nôn mửa, giãy, cựa nhiều thấy nhiều ở trẻ em (67%).


    Liệt 1/2 người bên đối diện được thấy trong 75% các ca chủ yếu có thay đổi là đồng tử to hay nhỏ là dấu hiệu đáng tin cậy. Đường vỡ thẳng qua rãnh của nhánh động mạch màng não giữa hoặc một xoang tĩnh mạch thường được phát hiện, những cũng khoảng 10% các ca không nhìn thấy. Đôi khi cần thiết làm chụp cắt lớp vi tính nhiều lần kèm theo so sánh với tính trạng lâm sàng của bệnh nhân.


    Ø 3.1.3. Điều trị


    Nếu tình trạng bệnh nhân xấu đi nhanh thì phải khoan thăm dò sớm ngay trong buồng cấp cứu (vùng thái dương, trán, đỉnh sau, vì không có thời gian để làm chụp cắt lớp vì đôi khi lỗ khoan chỉ cách máu tụ độ 1 – 2 cm. Khoan thăm dò như vậy càng tránh dược càng tốt.


    Phương pháp mổ xương sọ bằng 4 – 5 lỗ khoan trên khỏi máu tụ bằng chụp cắt lớp vi tính. Trong khi mổ cần phải cầm máu kỹ, kể cả những điểm chảy máy trên bề mặt màng cứng. Tuy nhiên, nhiều khi máu đã ngừng chảy trong khi phẫu thuật. Nếu nguồn máu chảy không phát hiện được và máu không cầm được thì phải đi xuống nền sọ tìm lỗ tròn nhỏ và có thể nhét một miếng bông nhỏ (hoặc oxycel).


    Tỷ lệ tử vong là vào khoảng 50%, nhưng tỷ lệ này có thể hạ xuống khoảng 20% hiện nay vì CT. Có thể phát hiện máu tụ khi các triệu chứng còn nhẹ.


    Trong một ca có biến chứng kèm theo máu tụ dưới màng cứng, máu tụ trong não hay dập não, tử vong cao gấp 4 lần nếu chỉ có máu tụ ngoài màng cứng.


    Tử vong thấp ở trẻ em và tỷ lệ cao dần với tuổi tác vì những biến chứng tăng dần cùng với những tổn thương trong màng cứng.


    Khoảng 30% những bệnh nhân còn sống thì đều có ít nhiều di chứng thứ phát và 10% những biến chứng này thì nặng. Tỷ lệ động kinh sau chấn thương là 4 – 10%.


    Ø 3.1.4. Máu tụ ngoài màng cứng ở hố sau



    Máu tụ ở hố sau không nhiều: khoảng 0,1 – 0,3% chấn thương nặng, thường hay thấy ở nơi có chấn thương và do máu chảy ở nơi chấn thương ở hố sau. ở máu tĩnh mạch chảy từ xoang ngang về lâm sàng thì tri giác giảm, xuất hiện những triệu chứng tiêu não và tăng áp lực nội sọ. Đôi khi có rối loạn nhịp thở. Nếu chụp X – quang có tổn thương ở vùng hố sau thì phải mổ sớm.

  2. #2
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,216

    Mặc định


    Ø 3.1.5. Máu tụ ngoài màng cứng ở trẻ em



    Chiếm khoảng 1 – 2 % máu tụ ở trẻ em bị chấn thương sọ não.


    ở trẻ em, những rãnh của động mạch màng não giữa thì nông và màng cứng thì dễ dàng bị tách khỏi lớp trong của xương sọ. Màng cứng của trẻ em có 3 lớp và dầy hơn ở người lớn. Lớp trong có nhiều mạch máu, mỏng và dễ chảy máu. Vì rằng màng xương dính chắc vào màng cứng ở nơi tiếp giáp các xương nên máu tụ thường giới hạn ở một xương


    Bệnh án 19


    Ng. Đình C ….27 tuổi vào viện 108 ngày 12 - 10 - 1959. Bị ném tạ vào vùng đỉnh đầu Mê 15 phút - tỉnh 2 giờ rồi hôn mê bắt đầu. Khám 40 giờ sau: tri giác tự động tốt. Có dãn đồng tử trái. Liệt nửa người phải. Mạch: 60 - chụp điện: có đường vỡ vùng đỉnh thái dương trái. Chụp mạch não: máu tụ bên trái. Mổ khoan vùng thái dương: không thấy gì. Khoan vùng trán; máu tụ nhiều. Mở xương vùng trán lấy 100 cm khối máu tụ. Sau khi mổ 8 giờ sau: bệnh nhân bắt đầu tỉnh và tốt dần.


    1. Loại tụ máu mãn tính có những đặc điểm sau đây:


    - Chấn thương rất nhẹ hầu như không có - đứt những tĩnh mạch đi từ vỏ não tới xoang tĩnh mạch dọc - không có dập não kèm theo - tiến tiển rất chậm như một khối u, và phần lớn bệnh nhân không vào khoa cấp cứu. Tiên lượng rất tốt và thường không có tử vong, chúng tôi đã mổ hai ca đều khỏi.


    2. Tụ máu dưới màng não cấp tính hay bán cấp: Thường do chấn thương nặng, kèm theo dập não lớn. Máu chảy ở các mạch máu ở vùng dập não. Tình trạng bệnh nhân nguy ngập ngay và chính dập não là nguyên nhân chủ yếu của tử vong. Trong loại này, tử vong rất cao. Tại bệnh viện Bellevue ở Nữu - ước trong 72 ca, tử vong 72%. Đặc biệt tử vong cao nhất trong 24 giờ đầu, nó hạ thấp dần những bệnh nhân bán cấp mổ sau 7 ngày. Turney Voris : 14 ca mổ từ ngày thứ nhất đến ngày thứ ba, chết 13. Chúng tôi mổ 13 ca trong khoảng 24 giờ đầu chết cả 13 ca. Có 2 ca sống được 1 tháng, một ngoài 3 tháng rồi chết (do dập não và những biến chứng nặng).


    Chúng tôi không nói với loại tụ máu mãn tính vì không thuộc phạm vi cấp cứu.


    Phần lớn nạn nhân hoặc ngã hoặc vì bị tai nạn xe cộ, đập đầu mạnh vào một nền cứng. Bệnh nhân bị mê ngay; tuỳ theo mê nặng nhẹ và tuỳ theo sự tiến triển của nó mà ta biết có dập não nhiều hay ít.


    Chúng tôi phân chia ra làm hai loại:


    1. Dập não nặng. Máu tụ là thứ yếu.


    2. Tụ máu chủ yếu. Dập não nhẹ, trung bình.


    1. Dập não nặng, máu tụ là thứ yếu:


    Bệnh nhân bị một chấn thương nặng, thường do tai nạn xe cộ và mê ngay. Vào viện, bệnh nhân thở rống, mặt nhợt, các cơ mềm nhũn; không có phản xạ gân hay giác mạc. Đồng tử không phản ứng ánh sáng, đều hay không đều nhau …Đôi khi bệnh nhân rãy rụa, lên cơ giật, nhiệt độ cao, thở loạn nhịp. Bệnh nhân chết trong khoảng 24 giờ và mổ tử thi thấy máu dưới màng não ở một bên hay hai bên, kèm theo dập não nặng. Đôi khi não cương lên, đỏ lan toả mà không thấy dập não.


    Với bệnh nhân còn trẻ, mê không sâu, rãy rụa nhiều, điều trị nội có thể kéo dài ngoài 24 giờ và nếu trong những ngày sau, một vài triệu chứng làm ta nghi ngờ có máu tụ và mổ, thì may ra còn hy vọng sống.


    2. Tụ máu là chủ yếu. Dập não nhẹ, trung bình:


    Nạn nhân vào viện trong tình trạng hôn mê, hoặc không cựa như đang ngủ, hoặc rãy rụa nhiều. Bệnh nhân hỏi không trả lời nhưng bấu thì có phản ứng, đôi khi kêu rên và nói một vài câu. Nhìn tay chân cử động có thể cho biết một bên yếu hơn bên kia hay liệt do dập não. Mạch thở, huyết áp, nhiệt độ không rối loại nhiều.


    Ta hãy chờ và nếu bệnh nhân hồi tỉnh dần sau 3, 4 ngày rồi lại mê dần dần thì ta có thể chẩn đoán máu tụ dưới màng não.


    Chụp điện mạch não và khoan thăm dò giúp ta tìm thấy khối máu tụ. Nếu bệnh nhân còn trẻ thì mổ còn có hy vọng.


    Chẩn đoán: Chẩn đoán khó khăn; căn bản dựa trên sự tiến triển của tri giác, tuỳ theo dập não nhẹ hay nặng kèm theo.


    a. Dập não nhẹ:


    Chấn thương + mê ngay (hay không). Tỉnh lại dần (hoàn toàn hay tương đối), trong một lát, vài giờ, vài ngày (đôi khi vài tuần) ; hôn mê dần dần.


    Công thức trên có thể thấy trong máu tụ ở ngoài, dưới màng não hay trong não. Trong máu tụ dưới màng não, bệnh nhân trở lại hôn mê dần dần và chậm. Khoảng tỉnh thường không rõ ràng như trong máu tụ ngoài màng não.


    Bệnh án 20


    Nguyễn Ng D..48 tuổi, vào viện 24-6-60 vì bị ô tô đâm phải - Hôn mê - đái dầm - không nói, nhưng gặng hỏi trả lời được. Nôn, không dãn đồng tử. có dập da dầu vùng đỉnh trái.


    Theo dõi: Sáng 25 -1 hôn mê dần, đồng tử phải dãn rộng. Liệt nửa người trái; nửa mặt trái. Có chỉ định mổ. Chụp điện mạch não: động mạch não trước bị đẩy sang trái - Động mạch não giữa bị một khối máu tụ ở thái dương đẩy lên trên. Các nhánh của động mạch não giữa di tới sát xương sọ. Chẩn đoán: Máu tụ vùng thái dương phải . Mổ : Mở xương vùng thái dương trái, có ít máu tụ dưới màng não nhưng khi tìm xuống nền vùng thái dương thì thấy não dập nhiều kèm vơí máu cục. Lấy hết và cầm máu. Đóng kín. Hậu phẫu: cho ăn bằng ống thông dạ dầy. Có nhiều đờm, thở khó nên 7 ngày sau : mở khí quản (hút ra nhiều đờm). Bệnh nhân tỉnh dần, hỏi đã biết, còn liệt nửa người trái. Có liệt giây III (dãn đồng tử, sụp mí mắt). Bệnh nhân tuy tỉnh nhưng yếu dần, gầy và chết 1 tháng 10 ngày sau.


    Mổ tử thi: Phù não tụt thuỳ hạnh nhân xuống lỗ chẩm.

  3. #3
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,216

    Mặc định

    b. Dập não nặng:


    Mê ngay do dập não kéo dài cho tới khi có máu tụ gây chèn ép và làm cho mê nặng hơn. Do đó không có khoảng tỉnh và ta cần đặc biệt nghiên cứu những sự thay đổi của tri giác. Có 5 trường hợp sau đây cho ta nghĩ tới máu tụ dưới màng não:


    1. Mê ngay - kéo dài không tỉnh, lúc nặng hơn, lúc nhẹ hơn


    2. Mê - tỉnh lại dần và chậm – ngắt quãng bởi những lúc mê nặng hơn.


    3. Mê ngay - nặng dần trong những giờ hoặc ngày sau.


    4. Mê ngay - rồi khá hơn nhiều (nhưng không tỉnh) - lại mê nặng hơn.


    5. Mê hay hôn mê - rồi mê nặng rất nhanh kèm theo sự cứng người mất não, mồ hôi vã, huyết áp cao, thở rống, dãn đòng tử một bên. Tiên lượng rất xấu. Nếu có điều kiện : mổ ngay, may ra cứu sống. Thường chết rất mau.


    Nói chung, ta căn cứ vào những sự thay đổi tri giác mà đặt vấn đề mổ, chụp động mạch não trong những trường hợp ngờ vực, giúp ta rất nhiều trong chẩn đoán.


    Bệnh án 21


    Vũ văn V…30 tuổi, ô tô đâm phải 10 giờ đêm ngày 22-1-58. Vào viện hôn mê ngay, mạch chậm : 56 - nhịp thở: 18; Chụp điện thấy: một đường vỡ vùng đỉnh thái dương phải (nơi chấn thương). Chụp điện mạch não: động mạch trước bị đẩy nhẹ sang bên phải tức có máu tụ bên trái. Chết 25 giờ sau, chưa kịp xử trí. Mổ tử thi : đường vỡ bên phải (nơi chấn thương). Bên trái: dập não rộng lớn ở nền thuỳ trán và thái dương kèm theo ở mỗi nơi một ít máu tụ dưới màng não. xung quanh có hiện tượng não phù. Thuỳ hạnh nhân tiểu não tụt xuống lỗ chầm chèn ép hành tuỷ.


    Thái độ xử trí:


    Nếu bệnh nhạn mê nặng ngay, do dập não nặng kèm theo rối loạn thần kinh thực vật thì không hấp tấp mổ, chỉ có hy vọng nếu bệnh nhân trẻ và đã sống quá 24 giờ.


    Theo dõi tình trạng tri giác là chủ yếu, nếu mê dần nặng hơn tức là có máu tụ kèm theo và lớn dần, hoặc nếu bệnh nhân tỉnh lại rồi mê lại sau vài ngày thì phải mổ. Trong những trường hợp còn ngờ vực, dùng phương pháp chụp điện mạch não giúp rất lớn cho chẩn đoán và chỉ dẫn phẫu thuật. Tử vong rất cao nếu mê nặng do dập não, đặc biệt trong 24 giờ đầu.






    3.3. Tụ máu trong não


    Máu tụ trong tổ chức não hiếm thấy, đặc biệt là máu tụ đơn thuần. Chúng tôi gặp một ca máu tụ đơn thuần, còn một số khác kèm theo dập não mà chúng tôi đã nói tới ở đề mục trên. Trong 29 ca máu tụ trong não của Browder và Turney thì có 21 ca có tổn thương khác kèm theo.


    Đặc biệt trong loại này, máu tụ ở bên não đối diện với chấn thương và thường nằm ở thuỳ trán hay thuỳ thái dương.


    Máu có thể do một động mạch vỡ và triệu chứng giống như trong máu tụ ngoài màng não với khoảng tỉnh ngắn. Hoặc máu có thể vỡ do tĩnh mạch và tiến triển chậm hơn như trong máu tụ dưới màng não cứng do tĩnh mạch vỡ gây nên.


    Phân loại và lâm sàng:


    Có hai loại chính trong máu tụ trong não:


    1. Máu tụ trong tổ chức não đơn thuần.


    2. Máu tụ kèm theo dập não (hoặc tụ là chủ yếu - hoặc dập não là chủ yếu).


    Trong loại này tiên lượng xấu.


    1. Máu tụ trong não đơn thuần.


    Sau một chấn thương tương đối nhẹ, máu tụ ở bán cầu não bên đối diện. Lâm sàng hệt như máu tụ ngoài màng não, sau chấn thương mê ngay - có khoảng tỉnh - mê lại.


    Vì máu tụ trong não ít gặp nên ta rất ít khi chẩn đoán được máu tụ trong não. Khoảng tỉnh ở đây cũng như trong máu tụ ngoài màng não. Nó có một giá trị thực tế:


    a. Khoảng tỉnh rõ ràng chứng tỏ tổn thương não không quan trọng và người ta có thể chữa khỏi nếu mổ rất sớm để lấy khối máu tụ đang chèn ép dần dần.


    b. Nếu đang tỉnh, bệnh nhân mê dần lại tức là có một khối máu đang chèn ép dần dần và ta phải tìm cho được khối máu tụ (chụp điện mạch não - nếu ngoài màng não không có máu tụ, ta phải tìm trong tổ chức não).

  4. #4
    lucky_star Đang Ngoại tuyến Moderator
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    19,216

    Mặc định

    2. Máu tụ kèm theo dập não:


    Nếu chấn thương không quá mạnh thì có dập não nhưng máu tụ là chủ yếu; nếu chấn thương nặng hơn thì những tổn thương dập ngoài vỏ não quan trọng hơn máu tụ.


    Lâm sàng biểu hiện như trong máu tụ dưới màng não hay ngoài não với dập não nặng: chấn thương - mê kéo dài - mê nặng hơn - chết.


    Ta biết rằng: kèm theo máu tụ trong não, ngoài dập não còn có một loại máu tụ dưới màng não. Chúng tôi đã xếp loại tổn thương hỗn hợp này trong đề mục máu tụ dưới màng não đã nói ở mục trên.


    Chẩn đoán và tháí độ xử trí:


    Chẩn đoán được máu tụ trong não rất khó vì nó không có triệu chứng đặc biệt của nó. Một hình thái lâm sàng của máu tụ ngoài màng não hay dưới màng não cũng giống như trong máu tụ trong não. Thường ta dựa vào biến chuyển của tri giác để mổ. Những triệu chứng thần kinh thường về loại yếu nửa người. Trong máu tụ, ngoài hay dưới màng não, thường ta thấy yếu nửa người toàn bộ, nhưng nếu ta thấy liệt một bộ phận (yếu một tay hay kèm theo liệt nửa mặt) có thể nghi ngờ một khối máu tụ trong não.


    Chẩn đoán dựa vào chụp động mạch não và khoan thăm dò. Nếu thấy không có máu tụ, ngoài hay dưới màng não mà trái lại thấy não căng, lồi ra ngoài lỗ xương hở thì ta phải chọc thăm dò vào tổ chức não để tìm máu tụ trong não.


    Tiên lượng:


    Chúng tôi có một ca máu tụ trong não: máu chảy vào não thất. Mổ ngay sau khi chết.


    Theo bản thống kê quan trọng của Browder và Turney ở King Country Hospital ở Brooklyn, ta nhận thấy con số tử vong rất cao.


    Trong 80 ca máu tụ trong não, chỉ có 29 ca được mổ còn 51 ca khác quá nặng, mổ tử thi mới thấy. Trong 29 ca mổ có 21 ca chết.(72%). Mổ 29 ca chỉ tìm được máu tụ trong 18 ca, và cứu được 8 bệnh nhân, số còn lại chết vì những tổn thương phối hợp nặng.


    Bệnh án 22


    Vũ h. Ph….48 tuổi, 10giờ 30'ngày 23-7-60, ngã cao 3mét đạp vùng chầm xuống nền gạch. Mê đi một lát rồi tỉnh. Sáng 24 tức 24h sau, ăn cháo xong thì nôn, chân tay co rúm, nói ngọng, nói mê sảng. Đến viện 1 giờ sau.


    Khám: Mê man, mất tri giác hiểu biết - cấu : lấy tay nắm, hai chân duỗi thẳng cứng, 2 tay co quờ quạng lung tung, đưa tay thì nắm chặt (triệu chứng thuỳ trán). Huyết áp 17,10 đồng tử co nhỏ hai bên, phản xạ ánh sáng còn, Babinski + bên phải.


    Chẩn đoán: có khoảng tỉnh. Không rõ được triệu chứng định khu.


    Chụp điện mạch não: Động mạch não trước bị đẩy sang trái. Động mạch não giữa hạ thấp ở đoạn đầu, các nhánh cùng của động mạch tới được sát xương.


    Kết luận: Máu tụ vùng trán dưới màng não, kèm đập não hoặc máu tụ trong não.


    Mổ: mở xương vùng trán. Màng cứng căng, rạch ở dưới có một lớp máu tụ mỏng. Hút xong não vẫn căng. Nghi có máu tụ trong não, tìm xuống cực thuỳ trán. Hút vào một chỗ máu tụ thì thấy máu tụ ăn thông sâu vào trong thuỳ trán. Khối máu khoảng 60 phân khối ăn tới tuỷ. Cầm máu bằng dao điện. Não xẹp lại. Khâu đóng lớp màng não, xương và da. 1 ống dẫn lưu ngoài màng cứng.


    Sau khi mổ: trong 3 ngày rưỡi, tiến triển không thay đổi vẫn mê nhưng tri giác tự động còn tốt. Các triệu trứng thần kinh thực vật ổn định. Nhưng sang ngày 28-7 bệnh nhân vật vã thở nhanh, khó. Huyết áp xuống, nhiêt độ 39. Mở khí quản.


    Chết 5 giờ sau. Không mổ được tử thi. Chẩn đoán: có thể là 1 biến chứng não xẹp. Nếu làm lỗ khoan thăm dò sớm thì có thể điều trị kịp thời.


    3.4. máu tụ dưới màng cứng mãn tính


    Nếu so sánh với những loại máu tụ khác thì loại này hầu như có một bệnh lý hoàn toàn khác. Trong đa số trường hợp thì chấn thương rất nhẹ và không gây nên mất ý thức, do đó không phát hiện được trong tiền sử bệnh. Thường bệnh nhân tuổi khoảng 60, đa số là đàn ông, hoặc có chấn thương nhẹ. Tái diễn nhiều lần hoặc có một bệnh về mạch máu.


    Bệnh này có thể giống như bất cứ bệnh lý nào khác. Triệu chứng có thể thay đổi, nhưng cũng có thể xuất hiện đột ngột và tiến triển nhanh chóng. Những triệu chứng đặc biệt là: 1) Đau đầu; 2) Thay đổi nhân cách; 3) Tính tình khác đi nhiều khi bệnh nhân được gửi đến từ các bệnh viện tâm thần. 4) Những tổn thương chức năng não (yếu nửa người, nói khó, triệu chứng tụt kẹt lều tiểu não.


    Với những chẩn đoán trên thì ngày nay có máy vi tính cắt lớp cũng dễ dàng chấn đoán bệnh với sự chính xác đến 80 – 90%.


    Nói chung khối máu tụ nằm ở vùng trung tâm đỉnh, có thể dầy nhiều phân và có hình thấu kính. Khối máu lỏng thường được bao bọc bởi một bao, phía ngoài sát vào màng cứng, gồm những tổ chức mới được thành lập và có nhiều mao mạch; còn phần bao trong sát với khoang dưới nhện thì mỏng hơn.


    Trong 10 – 20% máu tụ có cả hai bên. Làm mấy lỗ khoan thì có thể lấy được (hút được) máu kèm với bơm nước vào trong ổ và dấu hiệu phục hồi khoảng 80 – 95%.


    Tuy vậy trong một số ca không phải phẫu thuật có thể làm cho bệnh nhân phục hồi nhanh chóng vì rằng lấy máu tụ đi không phải lúc nào cũng làm mất đi được sự tụt kẹt mãn tính và sự lưu thông máu trong não.


    Trên X-quang hay chụp cắt lớp, sau mổ, nhiều khi người ta còn thấy khối hơi và nước máu còn sót lại và nhiều khi phải mổ lại coi như tái phát.


    3.6. máu tụ dưới màng cứng ở trẻ em


    Thường máu tụ ở hai bên đại não và rất lớn. Do chấn thương trong khi hay sau khi đẻ. Cũng có thể do nhiễm trùng thứ phát. Thường thấy ở trẻ từ 6 tháng đến 2 năm.


    Đứa trẻ phát triển rất chậm. Không nằm yên được lại nôn mửa rất nhiều. Vòng đầu của sọ tăng và thóp đứa trẻ căng lên. Chọc hút vào thóp lấy ra được nước máu ở dưới màng cứng. Nếu chọc hút nhiều lần không hết thì có chỉ định mổ. Trong những ca này phải mở xương sọ lấy đi phần dính vào màng nhện. Một cách khác là làm thông khoảng dưới màng cứng vào ổ bụng. Trong những trường hợp bệnh lý như thế này thì bao khối nước có đậm độ protein cao.


    Lịch sử bệnh thường không rõ ràng. Thường do dứt những tĩnh mạch vỏ não vào xoang tĩnh mạch. Lâm sàng thấy 4 chi tăng phản xạ chi, duỗi cứng người, kêu khóc nhiều và trông rất mệt. Da dẻ nhợt nhạt. Thiếu máu, hemoglobin thấp và hématocrite cũng thấp. Chấn đoán thường được tiến hành bằng cộng hưởng từ cắt lớp. Điều trị bằng cách lấy nước máu ra khỏi dưới màng cứng, không nên cho chảy nước ra nhanh. Lấy khoảng 10 – 20 ml hai bên. Thường đặt ống dẫn lưu dưới màng cứng ổ bụng trong 10%. Tử vong khoảng 5 – 10% nhưng từ 5 – 10% có triệu chứng giảm thông minh hay yếu thần kinh. Có 50 – 70% đứa trẻ phát triển bình thường.


    3.7. máu tụ do tổn thương động mạch màng não giữa


    Máu chảy nhiều, cầm máu bằng đốt điện hay khâu thân động mạch: luồn chỉ vòng qua động mạch rồi buộc lại, nhiều khi cầm máu ngay. Đôi khi đốt điện làm rộng vết rách và máu chảy nhiều, có khả năng huyết áp tụt vì mất nhiều máu. Ta phải quyết định ngay: đắp tạm bông vào chỗ máu chảy và hút máu cho sạch rồi quay ra cổ bệnh nhân (cùng bên mổ) tìm và buộc động mạch cảnh ngoài; (vì động mạch màng não giữa là một nhánh của động mạch cảnh ngoài đi vào trong sọ, qua lỗ tròn nhỏ rồi chìa ba nhánh để nuôi màng cứng).


    Còn một cách cầm máu động mạch màng não giữa ở lỗ tròn nhỏ: Dùng một mẩu bông nhỏ đưa vào vùng lỗ tròn nhỏ rồi nhét vào trong đó để chít động mạch màng não giữa. Cách này cũng gây cầm máu ngay tức khắc. Chúng tôi cũng gây cầm máu bằng phương pháp này và đạt kết quả tốt.

    Theo yduocvn.com

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •