LỐI VÀO BÀI THƠ ĐÂY THÔN VĨ DẠ CỦA HÀN MẶC TỬ
Trần Văn Lý


Đây thôn Vĩ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà.


Lịch sử văn học rất kỳ lạ. Có những nhà thơ khi nhớ tới là người ta nhớ ngay tới một bài thơ, một bài thơ đã làm nên gương mặt nhà thơ. Mà gương mặt ấy lại “sáng” vào bực nhất trong số gương mặt các nhà thơ cùng thời. Đó là trường hợp Thôi Hiệu của Trung Quốc và Hàn Mặc Tử của Việt Nam. Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu cái chất thơ, cái đẹp, cái tình ta đã hiểu, vì thế nên chúng ta yêu, chúng ta say đã đành. Còn Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử? Có chăng ta chỉ thấy “thôn Vĩ Dạ” đẹp quá, thơ quá chứ chúng ta đã hiểu gì đâu, vẻ đẹp còn như phong kín, chưa ai tìm thấy chìa khóa để: “Mở được lối vào” ấy thế mà chúng ta vẫn yêu, vẫn say, phải chăng Hàn Mặc Tử đã hai lần thi sĩ, hai lần tài hoa? Phải chăng nhà thơ Chế Lan Viên đã linh cảm khi Hàn Mặc Tử vừa mất:

“Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ tan biến đi, và còn lại ở thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.



Sau một thời gian dài không dám đưa vào giảng cho các em học sinh, gần đây, chắc vì “cái chất say người” của bài thơ đã khiến cho những nhà làm sách giáo khoa không cưỡng nổi, đã phải đem nó vào chương trình của các trường phổ thông mặc dù các nhà làm sách giáo khoa, hình như cũng chưa hiểu về bài thơ lắm; nội cái: khuôn mặt chữ điền văn lớp 11 cho là “…một loại diện mạo đẹp của những người bản chất tốt phúc hậu…hiền lành thấp thoáng đi về trong các vườn cây, sau rặng trúc ở thôn Vĩ Dạ”, còn tập làm văn lớp 12 in năm 1995, ông Lê Trí Viễn cho rằng: Đó là khuôn mặt của chủ nhân “vườn ai”…

Lại còn câu đầu của bài thơ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhiều người trong đó có cả tôi vẫn hiểu như lời ai trách ai sao không về? Và có người còn lý giải đó là lời trách của chủ nhân “Vườn ai” trách thi sĩ sao không về chơi? Nếu đúng vậy thì liền sau đấy ai nhìn thấy “…nắng hàng cau nắng mới lên” và còn:

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Chả nhẽ “Nàng”, chủ nhân của “Vườn ai” lại tự “quảng cáo” là vườn mình xanh như ngọc ư? Không có lý chút nào. Rồi đoạn tiếp với cặp câu thơ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Quyến rũ đến thế! Nhưng thuyền ở đâu? Sông trăng ở đâu? Bí mật vẫn hoàn toàn bí mật. “Thôn Vĩ Dạ” đẹp, nhưng không có lối vào…

Rồi tình cờ một buổi chiều buồn ngồi nhớ tới cái “Thuở xưa ấy” của đời mình, tự nhiên tôi lẩm bẩm: Lâu rồi, lâu lắm rồi anh không được gặp em. Mà cũng lâu lắm rồi sao anh không về thăm “nơi ấy” quê em! Thế là những kỷ niệm xưa cũ từ bến đò ngang sông Hồng, rồi bóng cây phượng đầu đình tán trùm mát rợp, rồi khuôn mặt thân thương của người con gái tôi quen thuở nào bỗng…vụt hiện trước mặt tôi như có thể đụng tới, chạm tới được…


Một sự liên t ưởng đã khiến tôi reo lên: “chìa khóa” để vào thế giới thơ, để vào “Thôn Vĩ Dạ” đây rồi. Hàn Mặc Tử có thể tự vấn, tự trách mình:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ (quê em) và “Thôn Vĩ Dạ” vụt hiện lên trong “mơ”, cảnh cũng hiện ra như có thể “đụng tới”, chạm tay tới như tôi vừa rồi lắm chứ! Trước mặt thi sĩ…nắng hàng cau nắng mới lên. Trong cái nắng mới ấy “Vườn ai” đã thu hút hết tâm trí. Trong con mắt của thi sĩ lúc này “vườn ấy” đẹp nhất.
“Vườn ai”. Vườn của nhà người ấy, vườn của…nhà nàng: mướt quá xanh như ngọc màu xanh trinh nguyên tới mức thiêng liêng, để người con trai chỉ dám thập thò ở ngoài mà nhìn, mà ngắm, mà chiêm ngưỡng thôi! Phút giây hồn thơ thăng hoa tới tột đỉnh, thi sĩ như nhìn thấy chính “mình” đang thập thò nhìn, ngắm “Vườn ai” ngày ấy, qua bờ giậu. Thấy cả mấy cái lá trúc đang che ngang khuôn mặt chữ điền của mình. Ở ngoài ngắm, chiêm ngưỡng qua bờ dậu “ vườn” nhà người ta, ắt sẽ bị mấy cái “lá trúc” cản đi tầm nhìn là đáng lắm chứ. Ôi câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền tài hoa đến vậy chính là cái lá trúc làm nên cái duyên của câu thơ. Đến bây giờ tôi mới dám chắc rằng: Khuôn mặt chữ điền kia là khuôn mặt của thi sĩ họ Hàn. Chỉ người thi sĩ có khuôn mặt chữ điền ấy, mới có tài nhận ra:

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

song lại thật quá, dát quá không dám vào. Đứng mãi…rồi cũng phải quay ra chứ chả nhẽ…! Khi xoay lưng bước ra một bước “Vườn ai” đã ở phía sau, cái cảm giác chia ly tràn ngay đến:

Gió theo lối gió mây đường mây

Say đắm…ra về tay không…thất vọng…càng buồn:

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay



Về tay không, cảnh vật trước mặt như không hồn chỉ có cái hoa bắp vô tri kia vẫn cứ…lay như nhịp đập vô vọng của trái tim thi sĩ lúc này vẫn đập, vẫn không quên.
Ai cũng biết lẽ đời, cái thuở yêu đương say cảnh chẳng qua vì say người.
Nói tới “Vườn nhà Nàng” chẳng qua là nhằm nói tới “Nàng”. Từ cái buổi chiêm ngưỡng “vườn” nói đúng hơn là chiêm ngưỡng “Nàng” qua bờ giậu ra về. Trái tim thi sĩ như đã để lại nơi “Vườn ai”, ra về với nỗi lòng “vô vọng”. Nhưng tình yêu đâu có dễ gì chấp nhận ngay sự “vô vọng”, sự thất bại, vì thế, khi kỷ niệm rực cháy, cảnh hiện ra “đủ cả” thậm chí còn đẹp hơn xưa, nhưng thiếu em. Phải chăng vì em chưa phải, em không phải là của anh? Một sự khát khao cháy bỏng, khát khao cuống cuồng tới mức muốn chiếm đoạt. “Em chỉ là của anh, em phải là của anh!” xuất phát từ cái dòng sông thực tế, do xúc động mãnh liệt nó bỗng thăng hoa để trong tâm tưởng của thi sĩ vụt hiện lên…một “dòng sông trăng”, một con thuyền, như một sự cứu cánh cho thi sĩ.
Chỉ có ánh trăng – dòng sông trăng mới có khả năng chảy đi bất cứ nơi nào tìm “Nàng” (em) ở bất cứ nơi đâu và mang “Nàng” về cho thi sĩ.



Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

“Sông trăng” – dòng sông mộng tưởng trong phút giây khát vọng cháy bỏng thi sĩ như sống với nó, dòng sông như có “thực”, và câu thơ “đầy mộng” ấy hay tới mức quyến rũ cả người ta ngay cả khi người ta còn chưa hiểu nó.
“Mơ” đến cao độ rồi cũng phải quay về cõi thực, dù câu thơ tiếp sau vẫn “còn mơ”:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Nhưng thi sĩ phần nào đã tỉnh ra, để nhận thấy:

Áo em trắng quá nhìn không ra

Mơ…tỉnh lại, mọi thứ trong mơ…tan đi…chìm đi…trong khói sương! Rồi tất cả chỉ còn…sương khói.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Thi sĩ buông tiếng thở dài:

Ai biết tình ai có đậm đà?

Yêu người ta không biết người ta có yêu mình không? Tình yêu đơn phương bao giờ chả dẫn tới buồn khổ, đó là lẽ thường ở đời. Nhưng với Hàn Mặc Tử: “Nỗi buồn khổ” ấy đã được thổi qua hồn mà thành bài thơ tuyệt tác, và “Thôn Vĩ Dạ” nơi có “ vườn ai” bỗng thành một địa danh bất tử. Như một thôn làng đẹp nhất trong các thôn làng Việt Nam.

Viết xong những dòng trên, tôi như người vừa tỉnh ra sau “một cơn say” kéo dài và tự hỏi – Ta vừa vào được “thôn Vĩ Dạ” bằng “lối ấy”, liệu có ai tìm được “lối vào khác” mơ mộng hơn chăng?

Xuân Đinh Sửu
*Đã đăng trên tạp chí “Cửa Việt” năm 1997, báo “Người Hà Nội” năm 1997, tạp chí “Tác phẩm mới” năm 1998.