Hành vi tự tử thường kết hợp với bệnh lý trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện, tâm thần phân liệt và các rối loạn tâm thần khác ngoài những hành vi có tính chất gây hấn và phá hủy.




Ảnh minh hoạ


1- Người hay nói về tự tử thường không làm thật vì họ chỉ muốn lôi kéo sự chú ý.

SAI: Luôn phải đề phòng khi tiếp xúc với người nói về cái chết, về ý định hay có kế hoạch tự tử. Tất cả sự đe dọa tự tử đều phải được xem xét cẩn thân.

2- Tự tử luôn có tính chất xung động và xảy ra mà không hề có dấu hiệu báo trước.

SAI: Thông thường hành vi tự tử là có cân nhắc. Nhiều người trước khi tự tử đã bộc lộ ý định qua các thông điệp lời nói hay hành vi.

3- Người tự tử thật sự muốn chết.

SAI: Phần lớn khi người ta muốn tự tử đều có chia sẽ suy nghĩ này với ít nhất một người khác, hay gọi đường dây nóng hay bác sĩ để nhờ giúp đỡ và điều này nói lên rằng họ đang lưỡng lự.

4- Khi một người cho thấy có dấu hiệu cải thiện hay đã sống sót sau một mưu toan tự tử thì có nghĩa là họ đã không còn ở trong tình trạng nguy hiểm.

SAI: Thật sự một trong những thời điểm nguy hiểm nhất là thời điểm ngay sau cơn khủng hoảng hay khi bệnh nhân vừa mới được cứu sống vẫn đang nằm trong bệnh viện. Tuần lễ ngay sau khi xuất viện cũng là thời điểm nguy hiểm vì lúc đó bệnh nhân cảm thấy đặc biệt yếu ớt và muốn thực hiện hành vi tự tử lần nữa. Một trong những yếu tố dự đoán sự xuất hiện hành vi tự tử trong tương lai là sự xuất hiện của hành vi tự tử trong quá khứ.

5- Tự tử luôn luôn có tính di truyền.

SAI: Không phải trường hợp tự tử nào cũng liên quan đến yếu tố di truyền và chứng cứ khoa học về việc này còn rất hạn chế. Tuy nhiên nếu trong gia đình đã có các thành viên khác tự tử thì đó lại là yếu tố nguy cơ quan trọng cho bệnh nhân, đặc biệt là khi trong gia đình có các thành viên khác bị trầm cảm.

6- Người mưu toan hay đã thực hiện hành vi tự tử luôn luôn có rối loạn tâm thần kèm theo.

SAI: Hành vi tự tử thường kết hợp với bệnh lý trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện, tâm thần phân liệt và các rối loạn tâm thần khác ngoài những hành vi có tính chất gây hấn và phá hủy. Tuy nhiên không nên quá thổi phồng sự kết hợp này. Cũng có những trường hợp không hề có rối loạn tâm thần nào kết hợp cả.

7- Nếu một nhà tư vấn thảo luận với bệnh nhân về vấn đề tự tử thì có nghĩa là nhà tư vấn đã mớm ý tưởng này cho bệnh nhân.

SAI: Rõ ràng là nhà tư vấn không phải là nguyên nhân gây ra hành vi tự tử chỉ vì đơn giản là thảo luận với bệnh nhân về vấn đề này. Thật sự là việc đánh giá tình trạng cảm xúc của bệnh nhân và làm bình thường hóa tình trạng gây ra stress là các yếu tố cần thiết làm giảm ý tưởng tự tử.

8- Vấn đề tự tử “chỉ xảy ra đối với người khác” chứ không phải cho bản thân chúng ta.

SAI: Tự tử có thể xảy ra cho bất kỳ loại người nào, bất kỳ hệ thống xã hội hay gia đình nào.

9- Một khi một người đã thử tự tử một lần thì sẽ không bao giờ thực hiện lại hành vi ấy.

SAI: Thật sự đây là yếu tố nguy cơ quan trọng cho sự xuất hiện các hành vi tự tử khác trong tương lai.

10- Trẻ em sẽ không thực hiện hành vi tự tử vì chúng không hiểu về sự chấm dứt do cái chết gây ra và về mặt nhận thức thì không có khả năng tham gia vào một hành vi tự tử.

SAI: Mặc dù ít hơn người lớn nhưng cũng có những trường hợp trẻ em tự tử cho nên đối với bất kỳ biểu lộ có tính đe dọa nào ở bất kỳ tuổi nào cũng phải được xem xét nghiêm túc.

BACSI.com (Theo NLĐ)