Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy theo nguyên nhân mà có phương pháp điều trị khác nhau. Khi tiêu hóa bình thường, chất lỏng chứa thức ăn và các dịch tiêu hóa đến ruột non (hồi tràng) chủ yếu dưới dạng một dung dịch muối đẳng trương giống huyết tương về hàm lượng ion natri và kali. Hồi tràng hấp thu khoảng 10% dung dịch này, phần còn lại được bài tiết vào phân để giữ cho phân không bị khô. Trong trường hợp tiêu chảy cấp, nhiều tác nhân gây nhiễm làm thay đổi hoạt động ở ruột non, ức chế hấp thu hoặc kích thích xuất tiết. Lượng lớn dịch xuất tiết ra này không được đại tràng hấp thu hết và bị tống ra ngoài dưới dạng phân lỏng nhiều nước. Tình trạng mất nước và chất điện giải bắt đầu ngay từ lần đầu đi phân lỏng. Vì vậy bù nước và chất điện giải là biện pháp xử lý đầu tiên cần áp dụng trong điều trị tiêu chảy.


Xem thêm bài viết: https://benhquaibi.net/trieu-chung-k...-doan-nao.html

Ngoài tác dụng tạo màng bảo vệ niêm mạc ruột, thuốc còn hấp phụ các độc tố của vi khuẩn, các khí trong ruột, có tác dụng cầm máu tại chỗ. Ưu điểm lớn nhất của Diosmectite là không có chống chỉ định, không sợ quá liều. Tuy nhiên Diosmectite chỉ là một loại thuốc có tác dụng hỗ trợ, cải thiện triệu chứng tiêu chảy chứ không phải loại thuốc giúp điều trị nguyên nhân tận gốc. Nếu tình trạng tiêu chảy đã chấm dứt thì không nên tiếp tục sử dụng vì có thể gây tình trạng táo bón. Không nên dùng Diosmectite với sữa và dùng cùng lúc với các thuốc khác vì có thể làm thay đổi khả năng hấp thu các thuốc uống kèm. Atapulgit là hydrat nhôm magnesi silicat chủ yếu là một loại đất sét vô cơ có thành phần và lý tính tương tự như kaolin.


Atapulgit hoạt hóa (chứa trong hầu hết các chế phẩm có trên thị trường) là atapulgit được đốt nóng cẩn thận để tăng khả năng hấp phụ. Atapulgit hoạt hóa được dùng làm chất hấp phụ trong ỉa chảy, có tác dụng bao phủ mạnh, bảo vệ niêm mạc ruột bằng cách trải thành một màng đồng đều trên khắp bề mặt niêm mạc. Atapulgit được giả định là hấp phụ nhiều vi khuẩn, độc tố và làm giảm mất nước. Nhưng Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng những phát hiện này không có ý nghĩa rõ về mặt lâm sàng. Mặc dù atapulgit có thể làm thay đổi độ đặc và vẻ ngoài của phân, nhưng không có bằng chứng xác thực là thuốc này ngăn chặn được sự mất nước và điện giải trong tiêu chảy cấp. Ưu điểm của atapulgite thường được coi là an toàn khi dùng cho phụ nữ mang thai và cho con bú. Tuy nhiên thuốc thường gây táo bón. Khi dùng liều cao hoặc kéo dài, có thể gây thiếu hụt phospho.


Không được dùng trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em và trẻ em dưới 6 tuổi. Tính chất hấp phụ của atapulgite làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ của một số thuốc ở đường ruột vì vậy nên uống cách các thuốc khác 2-3 giờ. Tuyệt đối không được dùng attapulgite quá liều. Hai thuốc loperamid và racecadotril được dùng khá phổ biến trị tiêu chảy trong những năm gần đây. Loperamid là chất tổng hợp thuộc nhóm opiat. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc trong điều trị tiêu chảy nhiễm khuẩn là không được tăng thời gian giữ lại phân lâu trong ruột, làm tăng sinh vi khuẩn trong ruột. Loperamid chống co thắt, làm giảm nhu động ruột, nên làm tăng thời gian giữ phân lại, làm tăng sinh vi khuẩn trong ruột. Từ đó có thể gây bùng phát lại sự nhiễm khuẩn.