Từ trước đến nay, cá ngựa vẫn được coi là vị thuốc cứu tinh cho các đấng mày râu có trục trặc về sinh lý. Y học cổ truyền đã dùng cá ngựa phối hợp với các vị thuốc khác trong nhiều bài thuốc ngâm rượu để bổ dương.
Tuy nhiên, ít ai biết rằng, cá ngựa cũng rất tốt cho cả phụ nữ. Sau đây, xin giới thiệu một số cách sử dụng cá ngựa hiệu quả cho cả hai giới.



Cá ngựa tên khác: hải mã, thủy mã, mã đầu ngư, hải long, thủy mã. Tên khoa học: Hippocampus spp., họ cá chìa vôi (Syngnathidae).
Cá ngựa có nhiều loài với kích thước và màu sắc khác nhau; nhưng chúng có một số đặc điểm chung sau: Thân dẹt bên, khá dày, cấu tạo bởi các đốt xương vòng. Đầu giống đầu ngựa, nằm ngang vuông góc với thân hoặc gập xuống, đỉnh có chùm gai. Mõm hình trụ dài, miệng nhỏ, mắt to, lưng hơi võng, có vây to; bụng phình không vây, vây ngực và vây hậu môn nhỏ.
Cá đực có túi ở bụng để hứng trứng của cá cái đẻ vào. Đuôi dài, xoắn tròn về phía trước, không vây. Màu sắc thường là vàng, trắng, vàng nâu có khi pha đỏ, xanh đen. Lúc cặp đôi trong mùa sinh đẻ, cá thường thay đổi màu sắc rất ngoạn mục.
Một số loài cá ngựa thường thấy: Cá ngựa vàng (đại hải mã)(Hippocampus kuda Bleeker.), cá ngựa trắng (bạch hải mã) (Hippocampus kelloggi Jordan. et Snyder.), cá ngựa chấm (tam ban hải mã)(Hippocampus trimaculatus Leach.), cá ngựa gai (thích hải mã)(Hippocampus histrix Kaup.), cá ngựa Nhật (Hippocampus japonicus Kaup.), cá ngựa Úc (Hippocampus hylloperexeques). Trong đó, cá ngựa vàng và cá ngựa trắng được ưa chuộng hơn cả.
Bộ phận dùng: Cả con cá ngựa. Khi cá bắt về, mổ bụng, bỏ ruột, uốn cong đuôi cho tròn lại, phơi hay sấy khô; có khi ngâm trong rượu hồi hay quế trước khi phơi khô. Khi bán, người ta thường buộc hai con to nhỏ với nhau (đực, cái).
Trong cá ngựa chứa nhiều protit, có các hoạt chất dạng estrogen, androgen.
Theo Đông y cá ngựa vị ngọt, mặn, tính ấm; vào can thận. Tác dụng ôn thận tráng dương, điều khí hoạt huyết, tán kết tiêu viêm. Dùng cho các trường hợp liệt dương, di tinh di niệu, trưng hà tích tụ, chấn thương bầm dập, thần kinh suy nhược, đẻ khó, nam giới bất lực về sinh lý.
Liều dùng cách dùng: 4 - 12g.
Một số thực đơn chữa bệnh có cá ngựa:
+ Cá ngựa 30g, bàn long sâm 30g, cốt toái bổ 20g, long nhãn 20g. Tất cả cắt nhỏ, ngâm với 1 lít rượu trong 7 - 10 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 20 - 40ml, có thể pha thêm mật ong. Chữa liệt dương, phụ nữ chậm có con do dương khí suy.
+ Cá ngựa 5g, đương quy 10g. Sắc với 200ml, lấy 50 - 70ml nước sắc. Uống 1 lần trong ngày. Chữa hen suyễn khò khè.
+ Cá ngựa 1 con, bầu dục lợn 1 quả. Cá ngựa rửa sạch, chặt nhỏ, rang chín vàng giòn, tán thành bột; bầu dục lợn bổ đôi, rửa sạch, cho bột cá ngựa vào. Hấp cách thủy. Ăn một lần trong ngày, dùng liền 15 - 20 ngày. Chữa viêm thận mạn tính.
+ Gà giò hầm cá ngựa: Cá ngựa 2 con, gà sống giò 1 con, nấm hương 30g, lạp sườn hoặc giăm bông 30g. Cá ngựa chế biến, gà sống giò làm sạch, nấm hương ngâm nước cho nở. Gà giò luộc, rút bỏ xương, đặt cá ngựa, nấm hương, hành hoa hoặc hành củ thái lát, gừng tươi thái lát lên trên và xung quanh, thêm muối, rượu, gia vị. Hầm nhừ trong khoảng 30 phút, gắp bỏ hành, gừng, thêm tiêu, ớt, gia vị. Dùng cho các trường hợp liệt dương, di tinh, tảo tiết, bạch đới khí hư (huyết trắng).
+ Rượu hải mã (Hải mã tửu): Hải mã 30g, rượu 500ml, ngâm 7 ngày. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 - 3 lần. Dùng cho các trường hợp liệt dương, chấn thương đụng đập, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.
+ Cháo hải mã (Hải mã chúc): Cá ngựa 2 - 4 con, gạo tẻ 60 - 80g. Cá ngựa rửa sạch, chặt nhỏ, nấu chín, cho gạo tẻ vào, nấu thành cháo, thêm gia vị thích hợp. Dùng cho các trường hợp liệt dương, viêm sưng hạch, u bướu vùng bụng, sưng tấy do chấn thương.
+ Bột cá ngựa: Cá ngựa từng đôi (cả con đực và con cái) làm sạch bỏ ruột sao vàng hoặc nướng chín vàng tán thành bột mịn, uống với nước nóng, mỗi lần 4 - 6g, ngày uống 1 - 2 lần. Dùng cho các trường hợp hen suyễn, thận hư; suy nhược thần kinh. Trường hợp vô sinh thì cả vợ chồng cùng uống.
Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng, cảm cúm sốt nóng, phụ nữ có thai không dùng.