Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Cool Tai biến do thuốc điều trị lao

    Tai biến do thuốc điều trị lao




    Để chữa khỏi bệnh lao, bác sĩ cũng như bệnh nhân phải tuân thủ một số nguyên tắc, trong đó có 2 nguyên tắc cơ bản là:


    - Điều trị phối hợp các thuốc chống lao, dùng 3, 4 hay 5 loại thuốc trong giai đoạn tấn công, sau đó giảm còn 2 hoặc 3 loại trong giai đoạn duy trì.

    - Dùng thuốc liên tục và đủ thời gian quy định từ 6 đến 8 tháng.>


    Tất cả các thuốc chống lao đều có tác dụng phụ, thời gian dùng thuốc phải kéo dài nên tai biến do thuốc xảy ra khá phổ biến trong quá trình điều trị. Các tai biến này có nhiều mức độ khác nhau: nhẹ có thể chữa khỏi dễ dàng và không ảnh hưởng đến tiến trình điều trị, nặng có thể để lại di chứng không hồi phục nếu không xử trí kịp thời, hoặc nguy hiểm hơn có thể đưa đến tử vong.





    Cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân tại BV Lao và Bệnh phổi Trung ương. Ảnh: TM

    Những yếu tố dễ gây tai biến do thuốc:

    Dùng thuốc quá liều; cơ địa; người già. Do các nguyên nhân khác như có tiền căn bệnh gan: viêm gan, xơ gan, suy gan, suy thận, dị ứng, nghiện rượu, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS.

    Những tai biến có thể gặp của từng loại thuốc:

    Isoniazid (viết tắt là INH, H): Mặc dù được phát hiện từ năm 1945, đến nay INH vẫn được xem là thuốc trị lao thiết yếu và điều trị có hiệu quả mọi thể lao. Isoniazid được thải qua thận. Những tác dụng phụ thường gặp là:

    - Viêm thần kinh ngoại biên: khởi đầu là tê, sau đó cảm giác đau nhức bỏng rát ở chân rồi tay, nếu không chữa triệu chứng có thể xấu hơn và gây đau đớn cho bệnh nhân. Triệu chứng này có thể biến mất nếu dùng pyridoxine 15-50mg mỗi ngày. Tuy nhiên nếu ở liều cao trên 50mg/ngày pyridoxine có thể trung hòa tác dụng diệt khuẩn của INH. Những người bị đái tháo đường, suy dinh dưỡng, người có thai, người bị thiếu máu, nghiện rượu, nhiễm HIV/AIDS khi dùng INH nên uống kèm vitamin B6 để phòng ngừa tai biến trên.

    - Viêm gan: thường xảy ra sau 4-8 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị. Tuổi càng cao càng dễ bị viêm gan do INH, sự kết hợp của INH với RIF và PZA làm tăng nguy cơ viêm gan. Cần phải hết sức thận trọng khi dùng INH cho người có tiền sử bệnh gan.Trong thời gian điều trị với INH cần theo dõi các biểu hiện của viêm gan: nếu thấy có triệu chứng biếng ăn, mệt mỏi, buồn nôn,vàng da thì phải ngưng thuốc ngay, vì nếu tiếp tục viêm gan sẽ nặng thêm.

    - Ở bệnh nhân có tiền sử bệnh tâm thần, động kinh: Isoniazid có thể gây rối lọan tâm thần và làm lên cơn động kinh.

    - Quá mẫn thuốc INH: gồm những triệu chứng như sốt, phát ban, viêm gan, mề đay, sẩn ngứa, ban xuất huyết.

    - Phản ứng về máu: mất tế bào hạt, tăng bạch cầu ưa eosin, giảm tiểu cầu, thiếu máu.

    - Đau lưng, đau khớp cũng có thể xuất hiện khi dùng INH.

    Rifampicin: (RMP, R): Là thuốc kháng sinh bán tổng hợp có tác dụng rất mạnh chống trực khuẩn lao. 30 % thuốc được thải qua nước tiểu, 60-65% thải theo phân. Người suy thận cần điều chỉnh liều. RMP được phân bố đều khắp cơ thể và đạt nồng độ có hiệu quả tại các cơ quan và các dịch của cơ thể gồm cả dịch não tủy, vì thế nhiều dịch của cơ thể có màu đỏ cam như: nước tiểu, phân, nước bọt, đờm, nước mắt, mồ hôi.

    Với liều dùng thông thường, RMP được dung nạp tốt và chỉ có khoảng 4% trường hợp có tác dụng phụ:

    - Viêm gan tương đối ít gặp, tuy nhiên nếu người bệnh dùng đồng thời một loại tác nhân hay thuốc có tác dụng độc đối với gan hoặc người bệnh có tiền sử bệnh gan thì có thể dẫn đến tử vong vì suy gan...

    - Hội chứng giả cúm với sốt, run lạnh, đau cơ; trường hợp nặng có thể dẫn đến viêm thận, hoại tử ống thận cấp tính, giảm tiểu cầu, thiếu máu tan huyết, và sốc.

    - Hội chứng tiêu hóa: đau thượng vị, buồn nôn, nôn ói, đau bụng, tiêu lỏng.

    - Hội chứng về hệ thần kinh như mệt mỏi, buồn ngủ, nhức đầu, choáng váng, mất điều hòa, lẫn lộn, kém tập trung, đau chi, yếu cơ.

    - Hội chứng hô hấp: ít gặp, gồm có khó thở, thở rít cần được theo dõi cẩn thận vì đôi khi sốc có thể xảy ra.

    - Hội chứng quá mẫn: sốt, ngứa, nổi mề đay, phát ban, tăng bạch cầu ưa eosin, khô miệng, khô lưỡi. Hiếm gặp hơn có thể xuất hiện tan máu, tiểu ra huyết sắc tố, tiểu ra máu, suy thận cấp.

    Ngoài ra rifampicin còn tương tác với một số thuốc khác ví dụ: Với thuốc tránh thai làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai vì vậy nên dùng thuốc tránh thai với liều cao hơn hoặc dùng biện pháp tránh thai khác. Rifampicin cũng có thể làm giảm tác dụng một số thuốc khác: digoxin, quinidin, ketonazole, propranolol, clofibrate, corticosteroids, barbiturate, thuốc điều trị HIV... Phụ nữ có thai nếu uống rifampicin, khi sinh nên tiêm vitamin K cho trẻ để phòng tai biến xuất huyết sau khi sinh.

    Ethambutol: (EMB, E) thuốc được thải qua thận. Tác dụng phụ thường gặp là viêm dây thần kinh thị giác gây hậu quả làm giảm thị lực và mù màu đỏ, màu lục. Nguy cơ xảy ra tai biến này tỷ lệ với liều lượng và thời gian sử dụng. Với liều thông thường, 15mg/kg/ngày có khoảng 1% người bị tai biến. Ngưng thuốc tổn thương sẽ hồi phục trong vòng vài tuần lễ và có thể tiếp tục điều trị với liều thấp hơn. Ethambutol còn làm tăng nồng độ urate vì tác dụng làm chậm thải acid uric từ thận.

    Những tác dụng phụ khác: ngứa, đau khớp, mệt mỏi, nhức đầu, váng đầu, lẫn lộn, đau bụng; tê và châm chích ngón tay do viêm thần kinh ngoại biên thì ít gặp.

    Không nên dùng EMB cho trẻ dưới 5 tuổi vì không thể kiểm tra thị lực. Với trẻ từ 6-12 tuổi nên dùng liều 10-15mg mỗi ngày.

    Pyrazinamid: (PZA,Z).Thuốc được thải qua thận. Tổn thương gan là biến chứng quan trọng nhất của pyrazinamide. Với liều thông thường(15-30mg/kg mỗi ngày) là an toàn, ở liều cao (40-50mg/kg/mỗi ngày) có 15% bệnh nhân bị tổn thương gan, một số trường hợp nặng có thể tử vong tuy nhiên hiếm gặp. Tăng men gan là biểu hiện xảy ra sớm nhất. Tất cả bệnh nhân đều cần được theo dõi chức năng gan định kỳ trong thời gian điều trị với Z. Không nên dùng Z cho bệnh nhân rối loạn chức năng gan trừ trường hợp tuyệt đối cần thiết.

    - Z làm tăng urat máu và có thể làm khởi phát cơn gút cấp.

    - Những tác dụng phụ khác: đau khớp, biếng ăn, buồn nôn, nôn, tiểu khó, mệt mỏi, sốt.

    Streptomycin: (SM, S). Thuốc được đào thải hầu hết qua thận. Ở những bệnh nhân có chức năng thận suy giảm, SM có thể tích lũy và đạt một nồng độ cao nguy hiểm.

    - Ngoài những phản ứng quá mẫn như sốt và nổi mẩn đỏ. Độc tính chính của SM là tổn thương tiền đình, nguy cơ gia tăng với liều lượng và tuổi (trên 40 tuổi). Tổn thương cơ quan tiền đình thường là có rối loạn tiền đình xuất hiện ở 2 tháng đầu thể hiện bởi chóng mặt và đi lảo đảo. Nếu bệnh nhân bị hoa mắt, khi ngưng thuốc hoặc giảm liều, hoa mắt có thể biến mất. Nếu tiếp tục điều trị, tổn thương tiền đình có thể nặng hơn và không hồi phục. Nguy cơ này đặc biệt cao ở những bệnh nhân có chức năng thận suy giảm.

    - Những phản ứng phụ tạm thời và nhẹ như tê rần, tê môi có thể xuất hiện sớm sau khi tiêm, triệu chứng này sẽ tự biến mất mà không cần điều trị. Rối lọan tiêu hóa, buồn nôn, nôn, sốt, nổi mẩn ngứa cũng có thể xuất hiện.

    - Những tai biến nặng ít gặp là: Viêm não, ban xuất huyết, mất bạch cầu hạt, sốc phản vệ.

    Để tránh tai biến, không nên điều trị với SM lặp đi lặp lại nhiều lần hay kéo dài, nhất là đối với người cao tuổi, người suy thận. Chú ý theo dõi chức năng thận, độ thanh thải creatinin máu, chức năng thính giác.

    Không nên dùng SM cho phụ nữ có thai, vì có nguy cơ làm tổn thương dây thần kinh số 8 của thai nhi. Khi đang điều trị với SM nếu có triệu chứng nhức đầu, ù tai, thì cần giảm liều

  2. #2
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Mặc định

    Sự quá mẫn thuốc




    Để điều trị bệnh lao cần phối hợp nhiều loại thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

    Trong thời gian đang điều trị lao, có thể xảy ra hiện tượng dị ứng thuốc hay còn gọi quá mẫn thuốc, thường xuất hiện vào tháng đầu tiên. Hiện tượng này có những biểu hiện như: sốt, nổi mẩn đỏ, luôn kèm theo ngứa, đôi khi có nổi hạch, lách lớn, gan lớn, có thể có vàng da hoặc không. Khi xảy ra hiện tượng này cần ngưng ngay các thuốc trị lao.

    Dị ứng thuốc có thể xảy ra với bất cứ thuốc điều trị lao nào, hiện tượng này có thể xảy ra riêng biệt với một thứ thuốc nhưng cũng có thể xảy ra cùng lúc nhiều thứ thuốc. Cần phân biệt giữa sự quá mẫn thuốc và tác dụng phụ do thuốc gây ra. Nói chung, sau khoảng 4 tuần điều trị, nếu bệnh nhân sốt đột ngột, nổi mẩn ngứa mà không tìm ra nguyên nhân nào khác thì phải nghĩ đến dị ứng thuốc và ngưng ngay các thuốc đang dùng. Sau đó bác sĩ thực hiện nghiệm pháp giải mẫn cảm, nghĩa là dùng một liều thuốc rất nhỏ tăng liều dần lên để lượng giá mức độ nặng nhẹ phản ứng của từng loại thuốc cũng như xác định thuốc không gây quá mẫn nhằm áp dụng một phác đồ điều trị khác hoặc liều lượng thuốc thích hợp với người bệnh.

    Những tác dụng phụ thường gặp trong lúc dùng thuốc chữa lao:


    Trong thực tế, nếu dùng liều lượng theo tiêu chuẩn và phù hợp với cơ địa của bệnh nhân, tai biến do thuốc ít khi gặp, hoặc nếu có cũng nhẹ hoặc thoáng qua, không cần thay đổi điều trị. Những tác dụng phụ nhẹ thường gặp là:

    - Bần thần, cảm giác này có thể kéo dài khoảng 30 phút đến 1-2 giờ, thường chỉ xảy ra trong 5-7 ngày đầu mới điều trị, sau đó người bệnh sẽ không còn cảm giác này.

    - Nước tiểu có màu đỏ, là màu của thuốc rifampicin, khi ngưng thuốc nước tiểu sẽ có màu như cũ. Đây cũng là dấu hiệu giúp bác sĩ nhận biết bệnh nhân có dùng thuốc này hay không.

    - Sạm da, thường là do thuốc pyrazinamid, để giảm bớt tác dụng phụ này không nên đi ra ngoài trời nắng, nếu phải đi thì mặc áo dài tay, mang khẩu trang, đội nón... để hạn chế phần da tiếp xúc ánh sáng. Khi ngưng uống PZA thì triệu chứng trên cũng dần dần biến mất.

    - Nổi sẩn ngứa, thường chỉ cần chữa triệu chứng, sẩn ngứa sẽ từ từ giảm đi rồi hết.

    - Tê rần ở môi sau khi tiêm thuốc streptomycin cũng chỉ là triệu chứng thoáng qua, không cần điều trị.

    - Nóng rát ở chân, tê tay chân là do Isoniazid, điều trị với vitamin B6 liều thấp 15mg-50mg mỗi ngày.

    - Đau khớp, chỉ cần điều trị triệu chứng; ở người có tiền sử bệnh gút, PZA có thể làm tăng axit uric máu và làm khởi phát cơn gút cấp, điều trị như cơn gút cấp.

    - Đau hoặc thấy khó chịu ở vùng thượng vị, gây buồn nôn: thường là nhẹ, chỉ cần chữa triệu chứng hoặc thay vì uống thuốc lúc bụng đói có thể ăn nhẹ như cháo, xúp, uống sữa... trước khi uống thuốc triệu chứng này cũng sẽ khỏi.

    Trong lúc đang điều trị, nếu thấy các triệu chứng như vàng da, vàng mắt; thị lực giảm, ù tai chóng mặt, sốt có kèm theo nổi mẩn ngứa, ban xuất huyết... là những triệu chứng nặng phải báo cho bác sĩ biết ngay, không được tự ý tiếp tục dùng thuốc.

    Biện pháp đề phòng tai biến do thuốc điều trị lao:


    Trước khi điều trị: cần khai thác kỹ tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận.

    Trong khi điều trị:

    * Dùng thuốc đúng liều và phù hợp với cơ địa của người bệnh.

    * Lưu ý bệnh nhân những tác dụng phụ có thể xảy ra và yêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện.

    * Làm xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan.

    * Trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh không được uống rượu, bia và hạn chế hoặc tránh sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.




    BS. Đồng Sĩ Tính
    (Theo SKDS )

    Bacsi.com

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •