LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Bệnh bạch cầu tế bào tóc : Liều đầu : 3 MUI dùng mỗi ngày tiêm dưới da hoặc tiêm bắp trong 16-24 tuần. Trường hợp không dung nạp được thuốc thì giảm liều còn 1,5 MUI/ngày, hoặc là giảm số lần tiêm còn 3 lần/tuần.

Liều duy trì : 3 MUI 3 lần/tuần tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Trường hợp không dung nạp, liều hằng ngày sẽ giảm đến 1,5 MUI 3 lần/tuần.

Thời gian điều trị : các bệnh nhân phải được điều trị trong khoảng 6 tháng trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân có đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Nhiều bệnh nhân đã được điều trị trong hơn 20 tháng liên tiếp. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa được xác định.

Ghi chú : nên tiêm dưới da ở những bệnh nhân có giảm tiểu cầu (tiểu cầu < 50 - 109/l) hoặc ở những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết.

Liều Roféron-A thấp nhất có hiệu quả chưa được xác định.

Bệnh Sarcome Kaposi kết hợp với SIDA mà không có nhiễm trùng cơ hội trước đó : Liều tối ưu còn chưa xác định. Các bệnh nhân bị Sarcome Kaposi kết hợp SIDA sẽ đáp ứng tốt hơn với điều trị Roféron-A nếu không có nhiễm trùng cơ hội trước đó, không có những triệu chứng của type B (sụt cân > 10%, sốt > 30°C mà không rõ nguồn gốc nhiễm trùng, vã mồ hôi về đêm), và nếu số lymphocyte T ban đầu > 200 /mm3.

Điều trị tấn công : Roféron-A nên tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Liều lượng ít nhất là 18 MUI/ngày, và nếu có thể thì 36 MUI/ngày. Liều này sẽ đạt được bằng cách tăng liều dần. Thời gian điều trị là 10-12 tuần đối với bệnh nhân > 18 tuổi.

Phác đồ tăng liều như sau :

Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày

Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày

Ngày 7-9 : 18 MUI/ngày.

Nếu bệnh nhân vẫn dung nạp tốt, liều có thể tăng đến : ngày 10-84 : 36 MUI/ngày.

Điều trị duy trì : nên tiêm Roféron-A dưới da hoặc tiêm bắp 3 lần/tuần với liều tối đa mà bệnh nhân có thể dung nạp nhưng không vượt quá 36 MUI.

Tỷ lệ đáp ứng khi điều trị duy trì liều 3 MUI/ngày Roféron-A ở những bệnh nhân Sarcome Kaposi thấp hơn tỷ lệ đáp ứng ở những bệnh nhân được điều trị theo liều đề nghị ở trên.

Thời gian điều trị : Tiến triển của tổn thương sẽ giúp đánh giá đáp ứng khách quan với điều trị.

Các bệnh nhân phải được điều trị ít nhất 10 tuần trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân có đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Thông thường các bệnh nhân cho thấy có đáp ứng sau khoảng 3 tháng điều trị. Nhiều bệnh nhân đã được điều trị trong hơn 20 tháng liên tiếp. Nếu bệnh nhân đáp ứng với điều trị thì nên tiếp tục điều trị cho đến khi không còn thấy được các tổn thương khách quan. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa được xác định.

Ghi chú : các tổn thương Sarcome Kaposi thường tái xuất hiện sau khi ngưng điều trị với Roféron-A.

Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy, giai đoạn mạn tính, có nhiễm sắc thể Philadelphia dương tính : Hiệu quả của Roféron-A chưa được chứng minh rõ ràng trong chỉ định này.

Điều trị Roféron-A cho phép đạt được tình trạng lui bệnh về huyết học ở 60% bệnh nhân trong giai đoạn mạn tính của bệnh bạch cầu mạn dòng tủy bất kể điều trị trước đó là gì. Ở 2/3 số bệnh nhân này sẽ có đáp ứng hoàn toàn về huyết học và điều này có thể xuất hiện 18 tháng sau khi bắt đầu điều trị.

Khác với điều trị bằng hóa liệu pháp có độc tính trên tế bào, Roféron-A có thể gây ra những đáp ứng về gène tế bào ổn định và kéo dài hơn 40 tháng.

Cách điều trị : tiêm dưới da hay tiêm bắp Roféron-A trong 8-12 tuần ở những bệnh nhân > 18 tuổi với phác đồ như sau :

Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày

Ngày 4-6 : 6 MUI/ngày

Ngày 7-84 : 9 MUI/ngày.

Thời gian điều trị : các bệnh nhân phải được điều trị ít nhất 8 tuần, hoặc tốt hơn là 12 tuần trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Tất cả các bệnh nhân có lui bệnh về huyết học hoàn toàn phải được tiếp tục điều trị với liều 9 MUI/ngày (tối ưu) hoặc 9 MUI 3 lần/tuần (tối thiểu) tùy theo đạt được đáp ứng về gène tế bào nhanh nhất có thể được. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa được xác định, mặc dù đáp ứng về gène tế bào xuất hiện trong 2 năm sau khi bắt đầu điều trị.

Cách dùng, hiệu quả và liều lượng tối ưu của Roféron-A ở trẻ em chưa được xác định.

Ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da : Roféron-A có thể hiệu quả ở những bệnh nhân bị ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da, giai đoạn tiến triển, khi bệnh không thuyên giảm hoặc không đáp ứng với điều kiện cổ điển.

Điều trị tấn công : tiêm dưới da hay tiêm bắp tăng liều dần đến 18 MUI/ngày trong thời gian tổng cộng là 12 tuần ở người > 18 tuổi.

Phác đồ tăng liều như sau :

Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày

Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày

Ngày 7-84 : 18 MUI/ngày

Điều trị duy trì : tiêm dưới da hay tiêm bắp 3 lần/tuần với liều tối đa mà bệnh nhân có thể dung nạp được, nhưng không vượt quá 18 MUI/ngày.

Thời gian điều trị : bệnh nhân phải được điều trị ít nhất 8 tuần, tốt hơn là 12 tuần, trước khi bác sĩ quyết định tiếp tục hay ngưng điều trị.

Nhiều bệnh nhân đã được điều trị trong khoảng thời gian lên đến 40 tháng liên tiếp.

Thời gian điều trị tối ưu chưa được xác định.

Thận trọng : không có đáp ứng khách quan về bướu ở khoảng 40% bệnh nhân bị ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da. Đáp ứng một phần thường xuất hiện trong 3 tháng và đáp ứng hoàn toàn thường xuất hiện trong 6 tháng mặc dù thường cần tối thiểu 1 năm mới đạt được đáp ứng tối ưu.

U sắc tố ác tính lan tỏa :

Điều trị tấn công : 10 MUI/m2 da/ngày (18 MUI) tiêm bắp 3 lần/tuần trong 2-3 tháng. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là một tháng, là thời gian tối thiểu để có thể đánh giá lợi ích của việc điều trị. Nhưng trong trường hợp bệnh tiến triển nặng thì sẽ ngưng điều trị tấn công.

Điều trị duy trì : trong trường hợp có đáp ứng với điều trị tấn công, nên tiếp tục điều trị với liều lượng như giai đoạn tấn công, cho đến khi ngưng cải thiện và bệnh nhân ổn định trong ít nhất 1 tháng.

Ung thư thận di căn hoặc tái phát :

- Roféron-A kết hợp với Vinblastine :

Điều trị tấn công : Roféron-A 10 MUI/m2/ngày tiêm bắp 3 lần/tuần trong 1 tháng. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là 1 tháng, là thời gian tối thiểu để quyết định ngưng hay điều trị tiếp. Trong trường hợp bệnh tiến triển nặng hơn thì sẽ ngưng điều trị tấn công.

Điều trị duy trì : cùng phác đồ như trên, thời gian kéo dài ít nhất 6 tháng.

- Tuy nhiên, trong vài trường hợp, sự kết hợp Roféron-A và Vinblastine không thể thực hiện được và phải xét đến việc điều trị Roféron-A đơn hóa trị như sau :

Điều trị tấn công : Roféron-A 10 MUI/m2/ngày (hoặc 18 MUI/ngày) tiêm dưới da hay tiêm bắp. Liều này sẽ đạt được bằng cách dùng Roféron-A tăng liều dần :

Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày

Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày

Sau đó : 18 MUI/ngày

Nếu bệnh nhân dung nạp được, liều Roféron-A có thể tăng lên đến liều tối đa là 36 MUI. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là 3 tháng, là thời gian tối thiểu để quyết định tiếp tục hay ngưng điều trị. Trong trường hợp bệnh tiến triển nặng thì sẽ ngưng điều trị tấn công.

Điều trị duy trì : cùng liều lượng như trong điều trị tấn công nhưng số lần tiêm là 3 lần/tuần. Thời gian điều trị duy trì ít nhất là 6 tháng.

Điều trị duy trì bệnh đa u tủy giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn bệnh ngưng tiến triển sau hóa trị tấn công :

Liều Roféron-A là 3 MUI/m2 da, tiêm dưới da 3 lần/tuần.

Viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công : Roféron-A được chỉ định trong viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công ở người lớn, kèm theo các dấu hiệu tăng sinh của virus như HBV-DNA, DNA polymerase hoặc kháng nguyên HBe dương tính.

Phác đồ tối ưu để điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công chưa được xác định. Liều thường dùng là khoảng 2,5-5 MUI/m2 da, tiêm dưới da 3 lần/tuần trong 4-6 tháng.

Nếu các dấu hiệu tăng sinh virus hay kháng nguyên HBe không giảm đi sau 1 tháng điều trị thì có thể tăng liều. Liều dùng có thể điều chỉnh tùy theo mức dung nạp của bệnh nhân.

Nếu không có dấu hiệu cải thiện nào sau 3-4 tháng điều trị thì nên kết thúc điều trị.

Trẻ em : liều dùng có thể lên đến 10 MUI/m2 mà không có tai biến gì ở trẻ em có viêm gan siêu vi B mạn tính. Tuy nhiên hiệu quả điều trị chưa được chứng minh ở trẻ em.

Thận trọng : ở bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B mạn tính đồng thời bị nhiễm HIV thì hiệu quả chưa được chứng minh.

Viêm gan siêu vi không A, không B mạn tính (viêm gan siêu vi C mạn tính) :

Liều tấn công : 3-6 MUI tiêm dưới da 3 lần/tuần cho đến khi men gan về bình thường.

Liều duy trì : 3 MUI tiêm dưới da 3 lần/tuần cho đủ 6-12 tháng.

Tuy nhiên liều tối ưu cũng như thời gian điều trị chưa được biết rõ.

Phần lớn bệnh nhân đáp ứng đều cho thấy cải thiện về men transaminase gan trong 16 tuần. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 16 tuần thì nên ngưng điều trị.

- Chú ý khi sử dụng :

Các lọ bột đã pha không nên dùng sau 2 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc sau 24 giờ ở 2-8°C.

Sản phẩm này không chứa chất bảo quản. Do đó, để tránh khả năng lây nhiễm, một lọ thuốc không nên dùng quá hơn một liều.

BẢO QUẢN

Để ở tủ lạnh 2-8°C, nhưng không đông lạnh.






Theo GDSK
Bacsi.com