LÚC NUÔI CON BÚ

Chưa biết thuốc có bài tiết qua sữa người hay không. Tùy theo tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ, chúng ta sẽ quyết định xem ngưng cho con bú hoặc ngưng thuốc.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Vì alpha-Interféron làm thay đổi chuyển hóa tế bào, vẫn có khả năng là Interféron làm thay đổi hoạt tính của những thuốc khác. Dữ kiện về tương tác thuốc của Roféron-A chưa rõ.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Các dữ kiện sau đây về phản ứng phụ được tổng kết từ điều trị 600 bệnh nhân ung thư đủ loại và 63 bệnh nhân bị bệnh bạch huyết tế bào tóc trơ với điều trị trước đó và có bệnh tiến triển. Hầu hết các bệnh nhân dùng liều cao hơn là liều được khuyến cáo hiện tại và điều này có lẽ giải thích tần số cao cũng như độ nặng của các phản ứng phụ.

Các triệu chứng toàn thân : đa số bệnh nhân có hội chứng giả cúm chẳng hạn như mệt, sốt, ớn lạnh, chán ăn, đau cơ, nhức đầu, đau khớp, vã mồ hôi. Các triệu chứng giả cúm này được khống chế một phần bằng paracétamol. Giảm liều thường sẽ giảm độ nặng của các tác dụng phụ chủ quan.

- Hệ tiêu hóa : khoảng 2/3 bệnh nhân có chán ăn và 1/2 có buồn nôn. Nôn ói, tiêu chảy và đau bụng từ nhẹ đến vừa thường ít gặp. Táo bón, đầy hơi, tăng nhu động hoặc ợ nóng hiếm khi xảy ra, loét dạ dày tái phát cũng như xuất huyết dạ dày-ruột không đe dọa tính mạng cũng đã được báo cáo một vài ca riêng lẻ. Thay đổi chức năng gan biểu hiện bởi tăng SGOT, phosphatase kiềm, LDH và bilirubine đã được quan sát thấy và thường không cần chỉnh liều. Những ca viêm gan rất hiếm gặp.

- Hệ thần kinh trung ương : chóng mặt, chóang váng, ức chế tâm lý, trầm cảm, ngầy ngật, lú lẫn, kích động. Ngầy ngật nặng và hôn mê là những biến chứng hiếm gặp.

- Hệ thần kinh ngoại biên : dị cảm, tê bì, viêm thần kinh và run đôi khi xảy ra.

- Hệ tim mạch : các rối loạn xảy ra ở < 1/5 số bệnh nhân, bao gồm các giai đoạn tăng và tụt huyết áp thóang qua, phù, tím tái, loạn nhịp và đánh trống ngực. Hiếm khi có phù phổi, suy tim ứ huyết, ngưng hô hấp tuần hoàn và nhồi máu cơ tim.

- Da, niêm, lông, tóc, móng : herpès môi tái phát nặng hơn. Đỏ da, ngứa sẩn, rụng tóc nhẹ đến trung bình, khô da, chảy nước mũi và chảy máu cam.

- Thận và hệ niệu : các rối loạn bao gồm tiểu đạm và tăng số tế bào trong cặn lắng nước tiểu. Tăng BUN, créatinine và acide urique trong huyết thanh hiếm gặp.

- Hệ tạo máu : giảm bạch cầu thóang qua xảy ra trong khoảng 1/3 số bệnh nhân nhưng hiếm khi đòi hỏi giới hạn liều. Giảm tiểu cầu thường ít xảy ra, giảm hémoglobine và dung tích hồng cầu cũng hiếm xảy ra. Phục hồi các rối loạn huyết học nặng về mức bình thường như trước khi điều trị thường xảy ra trong vòng 7-10 ngày sau khi ngưng Roféron-A.

Kháng thể trung hòa với Roféron-A được phát hiện ở 1/5 bệnh nhân (3% ở bệnh bạch huyết tế bào tóc). Cho đến nay, các kháng thể này chưa có tác dụng lâm sàng nào rõ ràng. Ngoài ra, kháng thể với Interféron người có thể xảy ra ngẫu nhiên trong một vài tình huống lâm sàng (ung thư, lupus, zona...) ở những bệnh nhân chưa bao giờ nhận Interféron ngoại sinh.







Theo GDSK
Bacsi.com