LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ

Mang thai là lý do để ngừng thuốc ngay vì vài nghiên cứu cho thấy rằng thuốc ngừa thai uống dùng trong giai đoạn đầu mang thai có thể làm tăng nhẹ nguy cơ dị dạng thai. Nhưng những nghiên cứu khác lại không củng cố được dữ kiện này. Mặc dù không thể loại trừ nguy cơ, nhưng chắc chắn có dù nhỏ.

Thuốc ngừa thai uống kết hợp có thể làm giảm lượng sữa mẹ.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Cấm dùng đồng thời với:

- Ritonavir: nguy cơ giảm hiệu quả ngừa thai do hàm lượng estrogen giảm. Nên dùng thêm các biện pháp ngừa thai khác, đặc biệt là phương pháp cơ học.

Không nên dùng đồng thời với:

- Các thuốc chống co giật (carbamazepine, phenobarbital, phenytoin, primidone), griseofulvin, rifabutine, rifampicine. Bằng cách tăng chuyển hóa hoạt chất ở gan, các chất gây cảm ứng enzyme làm giảm tác dụng ngừa thai trong khi điều trị và một thời gian sau điều trị. Nên dùng thêm các biện pháp ngừa thai khác đặc biệt là phương pháp cơ học.

- Các kháng sinh (ampicillin, chloramphenicol, neomycin, penicillin V, sulphonamid, tetracyclin), dihydroergotamin, các thuốc an thần, phenylbutazone bị nghi ngờ là có khả năng làm giảm tác dụng ngừa thai (nên dùng thêm các biện pháp ngừa thai không hormon khác).

- Các thuốc chống đông máu, các dẫn xuất coumarin hoặc indandion (nên xác định thời gian prothrombin, và điều chỉnh liều của các thuốc chống đông máu).

- Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, maprotiline, các thuốc chẹn bêta (sinh khả dụng các thuốc này tăng, nguy cơ nhiễm độc).

- Các thuốc uống trị tiểu đường, insulin (cần điều chỉnh liều).

- Bromocriptin (giảm tác dụng).

- Các thuốc độc gan, nhất là dantrolen (độc tính cho gan có thể tăng, nhất là ở những người trên 35 tuổi).

Thận trọng khi dùng đồng thời với:

- Cycloporin: có thể bằng cách ức chế sự thải trừ cycloporin qua gan, Rigevidon 21+7 làm tăng nồng độ cycloporin trong huyết tương, và hàm lượng transaminase và creatinin.

- Flunarizine: nguy cơ đa tiết sữa, vì flunarizine làm tăng độ nhạy cảm của mô vú với prolactin.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Những tác dụng phụ sau đây tương đối hiếm gặp, nhưng đủ nặng để ngừng thuốc:

Cao huyết áp, các biến chứng tim mạch, huyết khối thuyên tắc mạch, nghẽn mạch phổi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, ví dụ: nghẽn mạch não, đột quị, huyết khối tĩnh mạch võng mạc, mạc treo ruột, chậu nhỏ và chi dưới, huyết khối tĩnh mạch sâu, viêm tĩnh mạch huyết khối sâu, vàng da ứ mật, những thay đổi về lipid máu, giảm dung nạp glucose, căng vú, bệnh vú, nhức đầu bất thường, nhức nửa đầu bất thường, choáng váng, thay đổi thị giác, u tuyến gan, nghi ngờ xuất huyết trong bụng, đa tiết sữa (cần phải khám để xem có phải vì u tuyến yên hay không), khối u tử cung và vú.

Những tác dụng phụ sau đây thường gặp hơn, nhưng không nặng đến nỗi phải ngừng thuốc:

Buồn nôn, nôn, nhức đầu nhẹ, nhũn vú, thay đổi thể trọng hoặc dục năng, trầm cảm, mụn, tăng tiết bã, nám mặt, rụng lông, candida âm đạo, không dung nạp kính sát tròng.

Những thay đổi về kinh nguyệt:

1. Giảm lượng kinh: điều này bình thường và được dự kiến ở vài bệnh nhân. Thật vậy, điều này còn có ích, ở những người ra kinh nhiều trong những lần trước.

2. Trễ kinh: đôi khi không hành kinh. Nếu dùng thuốc đúng, hiếm khi có thai, nhưng phải xác định là không có thai trước khi bắt đầu dùng vỉ mới.

3. Đau khi hành kinh.

4. Vô kinh sau khi kết thúc điều trị: gặp vô kinh không rụng trứng (đặc biệt là ở những người có kinh nguyệt thất thường trước đây). Vấn đề này thường hết tự nhiên. Nếu kéo dài, phải kiểm tra tuyến yên trước khi dùng bất kỳ biện pháp điều trị nào.

Xuất huyết giữa kỳ kinh: xuất huyết lấm tấm rất nhẹ hoặc xuất huyết nặng hơn xảy ra trong khi dùng thuốc, nhất là trong những chu kỳ đầu. Chứng này thường không có tầm quan trọng đặc biệt nào, ngoại trừ chỉ ra sự dùng sai thuốc, hoặc tương tác với các thuốc khác. Tuy nhiên, nếu xuất huyết bất thường kéo dài, phải cân nhắc nguyên nhân thực thể.

Tác dụng lên tuyến thượng thận và tuyến giáp:

Thuốc ngừa thai uống không ảnh hưởng đáng kể lên chức năng vỏ thượng thận. Test chức năng ACTH cho vỏ thượng thận vẫn không đổi. Sự giảm tiết corticosteroid là do sự tăng khả năng liên kết với cortisol của protein huyết tương.

Đáp ứng với metyrapone ít hơn những phụ nữ không điều trị giống với đáp ứng khi mang thai.

Dùng iode phóng xạ cho thấy chức năng tuyến giáp không thay đổi. Có sự tăng iode liên kết với protein huyết tương, giống với sự tăng trong khi mang thai và trong khi dùng estrogen. Điều này là do sự tăng khả năng liên kết với hormone tuyến giáp của protein huyết tương hơn là bất kỳ thay đổi nào về chức năng tuyến. Ở những phụ nữ dùng thuốc ngừa thai uống, không dùng hàm lượng iode liên kết với protein huyết tương để lượng giá chức năng tuyến giáp.

Tác dụng lên hóa sinh máu: thuốc uống ngừa thai có thể làm tăng tốc độ lắng hồng cầu khi không có bất kỳ bệnh gì. Tác dụng này là do sự thay đổi tỷ lệ các thành phần protein huyết tương. Sự tăng về đồng, sắt và phosphat kiềm huyết tương đã được ghi nhận.

Vì hàm lượng sắt fumarat, viên màu nâu có thể gây kích ứng đường tiêu hóa, buồn nôn, nôn, tiêu chảy hoặc táo bón. Có thể gặp tiêu phân đen.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Chu kỳ dùng thuốc đầu tiên: Mỗi ngày dùng một viên màu trắng (tốt nhất là vào cùng giờ mỗi ngày) từ ngày đầu của chu kỳ kinh, trong 21 ngày (ngày hành kinh đầu tiên được tính là ngày 1). Trong 7 ngày sau đó, mỗi ngày dùng một viên màu nâu. Trong thời gian này sẽ xuất huyết như kinh nguyệt. Không cần dùng thêm biện pháp ngừa thai nào khác (màng chắn và thuốc diệt tinh trùng).

Các chu kỳ sau: Phải dùng tiếp 21 viên bao màu trắng của vỉ kế tiếp (tức là chính xác 4 tuần sau khi dùng viên đầu tiên vào cùng ngày trong tuần). Sau đó, lại tiếp tục dùng 7 viên bao màu nâu.

Đổi từ loại thuốc ngừa thai uống kết hợp khác, loại 21 viên: Dùng Rigevidon 21+7 giống như phác đồ nói trên. Bắt đầu uống Rigevidon 21+7 sau 7 ngày tạm nghỉ (sau 6 ngày tạm nghỉ, nếu loại thuốc trước chứa 22, viên hoặc ngay sau ngày cuối không tạm nghỉ nếu là loại thuốc có vỉ 28 viên).

Đổi qua từ loại thuốc ngừa thai chỉ chứa progestogen: Viên đầu tiên của Rigevidon 21+7 phải được dùng vào ngày đầu hành kinh ngay cả khi thuốc ngừa thai chỉ chứa progestogen này đã được dùng vào ngày đó. Không cần dùng thêm biện pháp ngừa thai nào khác.

Dùng thuốc sau sinh và sau xảy thai: Sau khi mang thai, Rigevidon 21+7 có thể được bắt đầu sau ngày 1 của chu kỳ kinh, sau chu kỳ 2 pha đầu tiên.

Vì sự rụng trứng sớm, chu kỳ 2 pha đầu tiên này thường ngắn hơn bình thường. Nếu dùng thuốc vào ngày 1 của kỳ hành kinh tự nhiên đầu tiên, thuốc ngừa thai này không ngăn được sự rụng trứng sớm, vì thế trong 2 tuần đầu của chu kỳ kinh, chưa có tác dụng ngừa thai đầy đủ.

Khi dùng thuốc ở thời kỳ sau sinh, phải cân nhắc sự tăng nguy cơ của các bệnh huyết khối thuyên tắc mạch hậu sản.

Sau khi xảy hoặc nạo thai ở 3 tháng đầu, có thể bắt đầu dùng thuốc ngừa thai ngay.

Những trường hợp đặc biệt cần dùng thêm biện pháp ngừa thai khác:

Nếu quên dùng thuốc vào giờ thường lệ, dùng lại trong vòng 12 giờ, không cần dùng thêm biện pháp ngừa thai nào khác. Viên kế tiếp được dùng vào giờ thường lệ. Nếu quên dùng thuốc lâu hơn 12 giờ, viên quên cuối cùng phải được dùng lại ngay khi nhớ ra, các viên quên trước đó để lại trong vỉ và dùng những viên còn lại như thường. Nếu quên dùng 1 hoặc nhiều viên của 21 viên màu trắng, phải dùng thêm biện pháp ngừa thai khác (màng chắn, thuốc diệt tinh trùng) cho đến kỳ hành kinh kế tiếp.

Qui tắc nói trên xử lý những viên màu trắng quên uống, không áp dụng cho viên màu nâu vì không có hoạt chất.

Xáo trộn đường tiêu hóa: Nôn và tiêu chảy có thể làm giảm hiệu quả thuốc do giảm hấp thu. Phải dùng thêm biện pháp ngừa thai khác (màng chắn, thuốc diệt tinh trùng) trong suốt thời gian có xáo trộn dạ dày và thêm 7 ngày nữa để dự phòng hành kinh sớm.

Thuốc nhuận trường nhẹ không làm giảm tác dụng ngừa thai.

QUÁ LIỀU

Chưa có báo cáo về những tác dụng do quá liều, ngay cả khi một đứa trẻ uống rất nhiều viên. Sự quá liều có thể gây buồn nôn và xuất huyết ở phụ nữ. Nói chung không cần điều trị quá liều. Tuy nhiên nếu phát hiện quá liều trong vòng 2-3 giờ và liều cao đến nỗi cần phải điều trị, nên sục rửa dạ dày.

Không có thuốc giải độc đặc hiệu, nên điều trị triệu chứng.

BẢO QUẢN

Tránh ẩm, giữ ở nhiệt độ trong khoảng 15-30°C.






Theo GDSK
Bacsi.com