Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh vẩy nến đang dùng liệu pháp sinh học có nguy cơ phát triển nhiễm nấm tăng cao, kết quả của một báo cáo đăng trên Tạp chí Viện da liễu Châu Âu và Viện Venerology cho biết.



"Các nhà khoa học chắc chắn có sự liên quan đến nguy cơ tái phát bệnh lao ở những bệnh nhân bị bệnh tiềm ẩn, tuy nhiên, với việc sử dụng các loại thuốc sinh học ngày càng tăng theo các chỉ định, cũng có sự gia tăng các báo cáo về nhiễm trùng nấm sâu" giải thích của Natanel Jourabchi, MD, Đại học Johns Hopkins ở Baltimore, và các đồng nghiệp.

Kể từ cuối những năm 1990 đến tháng 7 năm 2001, chỉ có 10 trường hợp bệnh histoplasmosis đã được báo cáo cho Hệ thống Báo cáo Tác động Bất lợi của FDA, nhưng tính đến tháng 9/2008, đã có 240 trường hợp liên quan đến việc sử dụng chất ức chế TNF trong điều trị các bệnh khác nhau.

Để xác định mối liên hệ giữa bệnh nhân vẩy nến điều trị sinh học và nhiễm nấm sâu, các nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm kiếm tài liệu để xác định các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, dữ liệu theo dõi dài hạn và báo cáo trường hợp cho bốn liệu pháp sinh học đã được FDA chấp thuận gồm : infliximab, adalimumab, etanercept , và usekinumab - dùng để điều trị bệnh vẩy nến mảng bám từ trung bình đến nặng.

Chỉ có một trường hợp đã được công bố nhiễm trùng sâu với histoplamosis, một trường hợp nhẹ của bệnh crycoccus da, và một số trường hợp không nghiêm trọng đã được báo cáo. Các nhà nghiên cứu đã báo cáo việc phát hiện 119 trường hợp nhiễm trùng cơ hội không phải do virut, không phải do vi khuẩn trong dữ liệu sơ bộ, nhưng dữ liệu không có sẵn để xác định có bao nhiêu những trường hợp nhiễm trùng đó là do nhiễm trùng nấm sâu.

Các nhà nghiên cứu kết luận: "Những bệnh nhân nhồi máu cơ tim khi sinh ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng nhiễm trùng sẽ được hưởng lợi từ điều tra nhiễm nấm sâu và phối hợp nhiều chuyên môn với các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm.

Tham khảo thêm tài liệu về vấn đề này :
  1. Jourabchi N et al. JEADV. 2014; doi: 10.1111/jdv.12508