Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính chất đàn hồi, đĩa đệm coi như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương.
Ở những người từ 30 tuổi trở lên, đĩa đệm thường không còn mềm mai, nhân nhày có thể bị khô, vòng sợi sơ bên ngoài dễ bị rạn nứt, rách. Trên cơ sở đó, nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống, nhân nhày có thể chui qua chỗ rách vào ống sống chèn ép rễ thần kinh, gây ra đau đớn và các biến chứng. Khi đó gọi là thoát vị đĩa đệm và thường chiếm 70% đau cột sống lưng.
I- NGUYÊN NHÂN
A- Những nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm cột sống:
1- Nguyên nhân do chấn thương cột sống .
2- Các tư thế trái, xấu trong lao động, sinh hoạt.
3- Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù, vẹo hoặc thoái hóa cột sống…
4- Cũng có thể do di truyền nếu bố mẹ có đĩa đệm bất thường về cấu trúc thì con cái dễ bị thoát vị đĩa đệm.
B- Theo y học cổ truyền thì thoát vị đĩa đệm có nguyên nhân sau đây dưới hai thể:
1- Thể can thận hư: chức năng của can thận bị suy yếu, phong hàn, thấp, thừa hư xâm nhập vào kinh bàng quang hoặc kinh đởm làm kinh khí bị bế tắc gây đau và hạn chế vận động, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến can thận. Thấp lâu ngày không giải tỏa được sẽ hóa hỏa, mặt khác kinh dân bị thiểu nhưỡng dẫn đến cân cơ bị mềm yếu, teo…
2- Thể huyết ứ: Do lao động quá sức hoặc vận động trái tư thế, bị chấn thương… gây huyết ứ làm bế tắc kinh lạc, sự lưu thông kinh khí không bình thường, khí huyệt không lưu thông sẽ gây đau đớn hạn chế vận động.
II- TRIỆU TRỨNG:
-Nổi bật nhất là đau cột sống, đau rễ thần kinh, đau tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài 1-2 tuần, có khi đau âm ỉ, nhưng thường đau dữ dội, đau răng khi ho hoặc vận động có liên quan đến cột sống. Nếu không được điều trị, đau sẽ kéo dài không hạn định.
- Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ sẽ gây đau vùng cột sống cổ, đau vai, đau gáy lan xuống cánh tay.
- Thoát vị đĩa đệm ở cột sống lưng sẽ đau ở sống lưng lan ra theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn.
- Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng ssex đau cùng thắt lưng dẫn đến đau dây thần kinh tọa.
- Tư thế của người bệnh: ngay lưng hay vẹo về một bên đau để chống lại sự co cứng của cơ, có khi đau quá bệnh nhân phải nằm bất động trên giường cứng để giảm đau. Khả năng vận động giảm rõ rệt, rất khó thực hiện các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay.
Khi thoát vị đĩa đệm đột sống cổ ảnh hưởng đến tay, bệnh nhân không thể nhấc tay hoặc co, gấp duỗi cánh tay, nếu ở vùng thắt lưng ảnh hưởng đến thần kinh tọa bệnh nhân không thể nhấc nổi gót chân, mũi chân dần dần xuất hiện teo cơ, chân tê bì, đại tiểu tiện không kiểm soát được.
III- CHUẨN ĐOÁN THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM:
Trên thực tế chuẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ, thường nhầm với nhiều chứng bệnh khác. Các triệu chứng trên chỉ có tính chất gợi ý.
Chuẩn đoán Xquang thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì bản thân đĩa đệm không cản quang nên không thể nhìn thấy trên phim, cho nên chỉ đánh giá gián tiếp tổn thương bằng hình ảnh hẹp khe đốt sống và vẹo cột sống.
Chuẩn đoán chính xác phải cần đến các xét nghiệm hiện đại như cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ… qua đó sẽ biết được tổn thương, vị trí thoát vị của đĩa đệm vào ống sống và mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra.
IV- HẬU QUẢ CỦA THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM:
Thoát vị đĩa đệm để lại những hậu quả và biến chứng nguy hiểm như:
- Có thể bị tàn phế suốt đời do bị chèn ép thủy sống, các dây thần kinh vùng thắt lưng bị chèn ép gây rối loạn có trơn nên không kiểm soát được đại tiểu tiện.
- Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ ở chi nên mất khả năng lao động kèm theo những ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, hạnh phúc và sinh hoạt của người bệnh.
V- Phương pháp điều trị:
Có nhiều phương pháp điều trị:
a- Điều trị nội khoa bằng các thuốc giảm đau như: Paracetamol, Efferalgon codein; thuốc kháng viêm không steroid như: cerebrex, mobic… thuốc giãn cơ: myfonal hoặc tiêm hydrocrtison vào ngoài màng cứng( nơi có điều kiện vô trùng).
b- Điều trị ngoại khoa: Khi sử dụng các phương pháp điều trị khác khôn g hiệu quả mà xuất hiện những biến chứng nguy hiểm thì phải dùng phương pháp phẫu thuật qua da để cắt bỏ đĩa đệm. Tuy nhiên phương pháp này được chỉ định rất hãn hữu.
c- Các phương pháp vật lý trị liệu:
- Tác động cột sống làm giãn các mầm sống nhằm dịch chuyển đĩa đệm dịch chuyển về vị trí bình thường.
- Kéo dãn cột sống.
- Mang dụng cụ đai lưng để giảm tải tác động lên đĩa đệm.
- Châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, thủy châm.
- Chiếu tia hồng ngoại, laser, sóng ngắn, từ trường,…
d- Phương pháp tự chữa thoát vị đĩa đệm bằng con lăn DOCTOR 100
IV- PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG CON LĂN DOCTOR 100
Đây là phương pháp trị liệu tổng hợp của nắn chỉnh, xoa bóp, day huyệt do bệnh nhân tự thao tác trên con lăn qua một lần hướng dẫn của kỹ thuật viên.
Phương pháp này sẽ tác động lên gân như toàn bộ gân, cơ, khớp, thần kinh giao cảm, đối giao cảm, huyệt vị ở lưng, vai, gáy, chi dưới và ở bụng bệnh nhân tạo ra một phản ứng liên hoàn cùng một lúc với diện rộng có tác dụng điều trị tốt với thoát vị đĩa đệm.
LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ GỒM:
A- Tư thế 1:
+ Thời gian thao tác từ 10 đến 15 phút.
+ Bệnh nhân nằm ngửa trên thảm tập, thả lỏng người, đặt con lăn dưới 2 đùi,
nâng mông 20 cm, dùng gót chân đẩy con lăn lên vùng xương cùng – cẳng chân và đùi gấp lại tạo thành góc 90 độ và hai chân đặt sát thảm tập, hai bàn tay ôm vào ụ chẩm phía sau đầu.
+ Dùng lực của bàn chân, cẳng chân đẩy cơ thể di chuyển và day từng đoạn 5 cm từ xương cùng đến gáy với thao tác nhẹ nhàng lần đầu tập luyện.
+ Nếu có phim chụp xác định được vị trí thoát vị đĩa đệm thì sẽ từ từ nghiêng người để vị trí tổn thương tiếp xúc với con lăn, tiếp tục day nhẹ rồi mạnh dần nhằm đưa đĩa đệm vào vị trí cũ.
+ Tác động:
- Huyệt vị: Các huyệt quan trọng nhất như: Cách du, Tam du, Thận du, Đại tràng du, Quan nguyên du, Tiểu tràng du, Bàng quang du, các huyệt giáp tích( nằm ở bờ dưới xương bả vai đến xương cùng). Ngoài ra còn tác động vào các huyệt còn lại của huyệt Bàng quang, mạch Đốc.
- Cơ, xương, khớp, thần kinh: Các khớp xương sống, khớp vai, khớp háng, các cơ dựng sống, cơ lưng và 31 đôi dây thần kinh sống, hệ thần kinh tự chủ( giao cảm và đối giao cảm, các đám rối thần kinh).
B- Tư thế 2:
+ Thời gian thao tác từ 5 đến 10 phút
+Tác động:
- Huyệt vị: Cự khuyết, Thiên khu, Hoàng du, Khí hải, Quang nguyên, Khúc cốt, Cự liêu.
- Cơ, thần kinh: Cơ thẳng bụng, cơ chéo bụng, cơ tháp.
- Thần kinh chậu hạ vị, thần kinh chậu bẹn và các nhánh của dây thần kinh VII,XII.
C- Tư thế 3:
Nếu có dấu hiệu đau lan đến thần kinh tọa thì:
1- Nằm ngửa đặt con lăn dưới mông lăn day vào cơ mông, huyệt Hoàn khiêu.
2- Đưa con lăn từng đoạn 5cm lăn và day vào các cơ đùi sau, dây thần kinh đùi và các cơ của bắp chân, các huyệt Ủy trung, Côn lôn,…
D- Lưu ý :
- Thao tác lên xuống con lăn phải đúng theo hướng dẫn, phải nhẹ nhàng, lựa chọn tư thế phù hợp của mình tránh mắc phải tư thế trái, xấu làm thoát vị đĩa đệm trầm trọng thêm.
- Tập vào thời gian nhất định, mỗi ngày chỉ nên tập hai lần; thực hiện cho đến khi khỏi bệnh.
- Nếu tập vào vị trí thoát vị đĩa đệm thấy quá đau thì những lần đầu chưa nên tác động vào chỗ đó.
- Liệu pháp này không chỉ chữa thoát vị đĩa đệm mà còn có tác dụng nâng cao sức khỏe và hỗ trợ chữa một số chứng bệnh khác.
Thoát vị đĩa đệm là bệnh thường gặp và có thể để lại nhiều hậu quả ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Bệnh có thể chữa khỏi khi được phát hiện sớm nhưng cũng dễ tái phát nếu không biết phòng tránh giữ gìn sau điều trị.
Điều trị bằng con lăn Doctor 100 có hiệu quả tốt nếu làm đúng hướng dẫn, kiên trì, tinh tưởng và thường xuyên. WEB: http://www.doctor100.vn/