Dùng cao xương động vật trong điều trị là một trong những phương pháp chữa bệnh rất phong phú của Y học cổ truyền nước ta. Từ xa xưa, nhân dân ta đã dùng các loại cao xương, đặc biệt là cao xương từ các loài thú rừng (Hổ, Khỉ, Gấu, Sơn dương, Gạc nai…) để làm thuốc chữa bệnh và đã tổng kết được nhiều kinh nghiệm bào chế và sử dụng nguồn dược liệu quý giá này.

Trong thực tế sử dụng, tác dụng bổ dưỡng được thấy rõ nhất. Một vài nghiên cứu cho thấy thành phần của các loại cao nói chung đều chứa nhiều canxi và có hàm lượng đạm cao. Điều này phần nào giải thích được cho ứng dụng thực tế trên. Cao đó cung cấp những loại acid amin quan trọng cho cơ thể, giúp duy trì và phát triển tế bào, kích thích quá trình tăng trưởng của cơ thể cũng như giúp cơ thể hồi phục sau những biến động.

Theo các sách Y học cổ, mỗi loại cao xương có tác dụng chữa bệnh khác nhau, thí dụ:

-Cao Hổ cốt:

Vị thuốc chữa đau xương, tê thấp. Theo Y học dân tộc: Cao Hổ cốt vị cay, mặn, tính ấm, có tác dụng mạnh gân cốt, bổ xương tuỷ, trục phong, trừ tê bại, dùng chữa gân xương đau nhức, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, những bệnh đau xương khớp; ngoài ra cao Hổ cốt còn được dùng làm thuốc bổ, tăng sức lực.

-Cao Xương khỉ:


Vị mặn, mùi tanh, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, bổ máu, mạnh gân cốt, được coi là vị thuốc bổ toàn thân, dùng cho những người yếu mệt, kém ăn, thiếu máu.

-Cao Ban long:

Được nấu từ Gạc hươu, Nai, luôn được coi là một vị thuốc bổ quý; thường được dùng cho những người yếu mệt, suy nhược thần kinh, khí huyết suy kiệt, tóc rụng, thận hư… Ngoài ra, Cao Ban long còn được dùng chữa ho ra máu, ruột chảy máu, tiểu tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, chân tay đau nhức.

-Cao xương gấu:

Xương gấu còn gọi là Hùng cốt. Tên khoa học OS ursi. Bộ phận sử dụng là toàn bộ xương các loài gấu đã phơi khô. Tính ấm, cay, vị mặn đi vào kinh can và thận. Tác dụng bồi bổ khí huyết hư tổn, chân lạnh đau buốt (cước khí), gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong chân tay co giật cũng dùng ở dạng cao mềm với liều trung bình từ 8-12g mỗi ngày.

-Cao xương hươu, nai:

Xương hươu, nai có tên khoa học là OS Cervi. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn; vào kinh can và thận. Thường được dùng phối hợp với các xương thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, dê, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ khí huyết hư tổn. Uống ở dạng cao mềm hay rượu, ngày 5-10g.

-Cao xương dê:

Còn gọi là Dương cốt. Tên khoa học OS Caprae. Bộ phận dùng nấu cao là toàn bộ xương các loài dê phơi khô. Đông y cho rằng cao xương dê tính ấm, vị mặn; đi vào các kinh can, tỳ, thận. Tác dụng trị liệu: làm thuốc bổ máu, phụ nữ sau sinh cơ thể gầy yếu, ăn kém, sữa ít. Đặc biệt còn dùng xương dê phối hợp với xương các loài thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, chó, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ toàn thân. Liều dùng thông thường từ 10-20g mỗi ngày.

-Cao quy bản:

Là dùng yếm rùa khô để nấu thành cao, nên quy bản còn gọi là yếm rùa hay quy giáp. Tên khoa học là carapax Testudinis. Quy bản tính lạnh, vị ngọt, mặn; đi vào các kinh thận, tâm, can, tỳ. Tác dụng chữa thận âm suy yếu, ù tai, nóng nhức trong xương, ho lâu ngày, di tinh; Tay, chân, lưng, gối đau nhức; Phụ nữ khí hư, bạch đới. Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, viên hoàn hoặc dạng cao. Nếu là dạng thuốc sắc, liều lượng trung bình mỗi ngày từ 12-24g. Nếu là dạng cao, ngày dùng từ 10-15g. Cần lưu ý các trường hợp người âm hư mà không nhiệt thì không dùng.

-Cao mai ba ba:

Mai ba ba còn gọi là Miết giáp hay Thủy ngư xác, Giáp ngư. Tên khoa học Carapax amydae, thuộc họ ba ba (Trionychadae). Bộ phận dùng nấu cao là mai khô. Mai ba ba tính lạnh, vị mặn, đi vào các kinh can, thận, tỳ, phế. Được dùng làm thuốc bổ âm, dùng cho người lao gầy, lao lực quá độ, nhức xương, sỏi đường tiết niệu (tiểu ra sỏi), phụ nữ bế kinh. Sử dụng ở dạng bột, sắc hay cao mềm. Liều trung bình mỗi ngày 10-30g. Các trường hợp không dùng như âm hư mà không nhiệt, tỳ hư lại tiêu chảy, phụ nữ đang mang thai.

-Cao xương báo:

Xương báo còn gọi là Báo cốt. Tên khoa học OS Pantherae. Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn bộ xương các loài báo. Đông y cho rằng cao mềm nếu từ xương báo tính hơi ấm, vị cay, mặn đi vào kinh can, thận. Dùng làm thuốc bổ toàn thân, có thể dùng thay xương hổ để chữa đau nhức gân xương, tê thấp dưới dạng cao mềm. Ngày uống 5-10g. Người thực nhiệt không nên dùng.

*Như vậy, những bệnh được chữa bằng cao xương rất nhiều, tuy mỗi loại cao có tác dụng chính đối với một số bệnh, nhưng chúng vẫn có những công dụng chung. Nếu tổng hợp công dụng của các loại cao xương được biết kể trong các tài liệu Y học cổ, có thể tập trung vào một số nhóm bệnh sau đây:

+Các bệnh về máu, đặc biệt là các chứng chảy máu.
+Các bệnh tinh thần kinh: Trạng thái kích thích, mất ngủ, hồi hộp, co giật, nôn mửa…
+Các bệnh khác: Suy nhược, phù nề, yếu tim…

Những công dụng trên phản ánh tương đối rõ vai trò của canxi và phốt pho bên cạnh các chất khác có trong cao xương (Nitơ toàn phần, axit amin…). Về tác dụng dược lý, canxi đóng vai trò quan trọng đối với hệ xương cũng như đối với hệ thần kinh trung ương. Nó rất cần thiết trong quá trình đông máu, chuyển prothrombine thành thrombine, đồng thời là yếu tố quan trọng trong thẩm thấu mao mạch và các màng, làm vững chắc các màng, giảm sự thẩm thấu quá độ.

Phốt pho cũng có nhiều chức phận trong chuyển hoá tế bào, và những chức phận đó đều rất quan trọng.

Như vậy, nói đến tác dụng phòng, chữa bệnh của cao xương, người ta nghĩ nhiều đến vai trò của canxi và phốtpho. Trong thực tế, có rất nhiều bệnh cần được bồi bổ canxi và phốtpho, do đó việc dùng cao xương là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của Y học dân tộc để cung cấp cho cơ thể một loại canxi rất thích hợp khi bị thiếu canxi.

Trong nghiên cứu thừa kế phát huy vốn Y học cổ truyền của dân tộc, nhiều tác giả đã nghiên cứu về cao xương, đặc biệt là thành phần hoá học của chúng. Sau đây là thành phần hoá học của cao Ban long và cao Khỉ - hai loại cao xương được nhiều người ưa dùng hiện nay:


Thành phần Cao Khỉ Cao Ban long:


-N toàn phần (%) 16,86 15,55 - 17,62
-Axit amin (%) 0,58 0,53 - 0,96
-Lipit (%) 0,05 - 0,07
-Độ tro 1,88 1,96 - 2,37
-Asen (phần triệu) 4 5 - 6
-Clo (tính bằng HCl) 0,56 0,2 - 0,66
-Canxi (%) 0,02 0,08 - 0,12
-Photpho (tính bằng H3PO4) 0,03 0,04 - 0,20

(Sưu tầm).