Kết quả 1 đến 4 của 4
  1. #1
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Cool Những điều cần biết về kéo dài chi



    Những điều cần biết về kéo dài chi



    BS. Nguyễn Văn Quang



    Kéo dài chi là một kỹ thuật đã được phát triển trên cơ sở khoa học từ những năm 1950 với công trình của TS. Gravrill A. Ilizarov, người Nga. Từ đó đến nay kỹ thuật kéo dài chi của ông đã được áp dụng trên toàn thế giới và hiện nay có nhiều trung tâm chuyên về điều trị cho những người có chiều cao ngắn hơn bình thường.

    Chúng tôi xin được cung cấp một số thông tin để các bạn nắm rõ về kỹ thuật này.

    Người bệnh phải trải qua 6 giai đoạn:

    - Giai đoạn 1: trong ngày mổ, người bệnh được đặt một hệ thống dụng cụ ở chung quanh chi, tay hay chân, và được đặt xuyên qua xương của mình một số cây kim hoặc đinh nhằm cố định các đoạn xương cần kéo dài.

    - Giai đoạn 2: sau đó nơi xương được kéo dài sẽ được cắt rời ra. Đây là giai đoạn quan trọng vì kỹ thuật cắt rời xương này không phải như là một phương pháp cắt thường mà phải cắt làm sao cho ít tổn mạch máu nuôi xương nhất.

    Hết giai đoạn này là hết thời kỳ trong phòng mổ, thời gian của hai giai đoạn chỉ chiếm trong khoảng một ngày, đó là không kể các ngày phải chuẩn bị cho cuộc mổ.

    - Giai đoạn 3: là giai đoạn chờ. Sau khi mổ các thiết bị được đặt và xương được cắt rời thì phải chờ. Tùy theo tác giả, đối với tác giả Iilzarov thì chờ trong 7 ngày, còn đối với tác giả G. De Bastiani (người Ý) thì chờ 10 – 15 ngày tùy theo tuổi. Thời gian chờ này nhằm để làm lành các vết thương mổ và để tạo một phần của can xương.

    - Giai đoạn 4: giai đoạn căng giãn kéo dài chi. Kéo dài mỗi một ngày 1mm, chia làm 4 lần, mỗi lần 1/4mm. Như vậy chúng ta thấy 1cm được kéo dài trong 10 ngày nhưng không phải 1cm được tính là 10 ngày vì sau đó còn có giai đoạn thứ 5.

    - Giai đoạn 5: đó là giai đoạn hóa xương, và sau khi xương được căng ra ở giữa các khoảng mặt gãy là những mô non gồm có các mô liên kết non, các mô này sẽ biến thành mô sụn hoặc mô xương tùy theo tốc độ căng giãn và thời gian để cho các mô này hóa xương tùy theo tổng trạng và tùy theo những thiết bị. Như vậy thời gian trung bình để kéo dài 1cm được gọi là chỉ số lành xương thường tính từ 1 – 2 tháng tùy theo trường hợp. Muốn căng giãn kéo dài chi 5cm thì thời gian phải tốn ít nhất là 10 tháng có khi lâu hơn vì sau khi chi được kéo dài, tuy xương đã lành, còn phải tập vận động phục hồi chức năng một thời gian nữa.

    - Giai đoạn 6: sau khi xương đã lành bình thường, cầu xương tốt thì lấy thiết bị kéo dài chi ra. Đây là giai đoạn chót. Giai đoạn này cần được thực hiện một cách cẩn thận vì các vùng xương được kéo dãn dễn bị những biến chứng như gãy lại hoặc bị lệch. Cho nên đó là giai đoạn cần phải chú ý không nên nôn nóng.

    Như vậy cho thấy người bệnh phải trải qua 6 giai đoạn tất cả và thời gian được tính không phải từ ngày mà là từ tháng và từ một năm trở lên nếu căng quá 5 – 6cm.

    - Tóm lại: người bệnh phải trả qua một cuộc mổ, xương được cắt rời kéo dãn xương và các phần mềm phải kéo theo. Do đó, đây là một cuộc mổ lớn chứ không phải là một kỹ thuật nhỏ, cần theo dõi cẩn thận trong thời gian lâu và cần phải chú ý những biến chứng.


    Nguồn internet.

    Các biến chứng có thể xảy ra:

    Trong suốt thời gian kéo dài chi người bệnh phải chịu một cuộc mổ và các biến chứng của cuộc mổ đồng thời với các biến chứng của sự kéo chi mà quan trọng nhất là:

    1. Đau: sự đau này do phẫu thuật mà ra. Nếu được mổ nhiều chỗ thì đau nhiều hơn giống như các xương bị gãy ở nhiều chỗ. Sau đó, cơn đau giảm dần cho đến khoảng 2, 3 tuần sau bắt đầu căng giãn thì đau bắt đầu từ nhẹ cho tới tăng dần vì lúc đó các phần mềm có dây thần kinh mạch máu sẽ căng ra. Khi mạch máu căng lên thì thường đưa đến tình trạng tăng huyết áp, mất ngủ. Khi dây thần kinh bị căng ra thì đưa đến tình trạng tê, đau chi đó và có thể đưa đến tình trạng ăn không ngon, ngủ không được, sụt cân và mất tinh thần, bị trầm cảm. Do đó người bệnh cần phải biết trước điều này để có đủ can đảm vượt qua và gia đình cũng phải biết trước nhằm tránh những sự trục trặc hục hặc giữa cha mẹ và con cái. Có nhiều gia đình sau thời gian kéo dài chi vì không được hiểu rõ những khó khăn biến chứng có thể xảy ra cho nên không khí trong nhà không vui.

    2. Trật khớp: trật khớp vì lý do xương căng ra nhanh mà các phần mềm không theo kịp, bị co rút, vặn vẹo và trật các phần khớp ở phía dưới chẳng hạn như kéo cẳng chân thì trật khớp cổ chân, kéo xương đùi thì bán trật khớp gối. Do đó đây là những biến chứng cần phải chú ý nhằm làm chậm lại hoặc gnừng hẳn sự kéo dài.

    3. Lệch trục: có thể chi đó không còn ngay như bình thường. Khúc dưới có thể lệch ra ngoài, vô trong ra trước, hoặc ra sau. Thường ở cẳng chân thì lệch ra sau, ở xương đùi thì lệch vô trong ra ngoài, ở mé trên xương đùi bị lệch ra trước, ở mé dưới xương đùi bị lệch ra sau. Đó là các lệch thường gặp ở vùng chi dưới.

    4. Kế đến là các biến chứng do các thiết bị chẳng hạn như nhiễm trùng các lỗ đinh nơi đinh xuyên qua da.

    5. Ngoài ra còn có những biến chứng như sau khi lấy thiết bị ra, phần xương kéo dài bị gãy lại, hay là phần xương đó không liền, đó là những trường hợp cần phải chú ý cẩn thận gìn giữ sau khi lấy thiết bị ra.

    - Đó là một số các biến chứng cần phải chú ý. Theo một số tác giả thì các biến chứng này xảy ra không ít từ 20 – 60%. Tuy nhiên, đây là một phẫu thuật có những thiết bị tương đối nhẹ nhàng cho nên các biến chứng có thể xảy ra không phải là những biến chứng nặng nề, nguy hiểm đến tính mạng mà thường là những biến chứng nhẹ. Chỉ có những biến chứng quan trọng nhất đã nêu lên từ đầu là biến chứng đau mà người bệnh luôn luôn phải trải qua và người ab1c sĩ cần phải chú ý để điều chỉnh tốc độ kéo dài cho hợp lý.

    Trường hợp nào nên áp dụng kỹ thuật này

    A. Chỉ định:

    Kỹ thuật này có nhiều áp dụng được Ông Ilizarov nêu ra như sau:

    1. Các trường hợp xương gãy bị mất phần xương hiện nay. Ở đây chúng ta có áp dụng kỹ thuật này để kéo dài chi lắp những khoảng mất xương.

    2. Xương gãy phạm vào mặt khớp.

    3. Chỉnh các biến dạng của chi vì bất cứ lý do nào như bị sốt bại liệt, dị tật bẩm sinh.

    4. Điều trị các bệnh xương không liền do bẩm sinh.

    5. Kéo chi dài cho những người bị tật lùn bẩm sinh.

    6. Chỉnh các dị tật chân khèo.

    7. Chỉnh các co rút khớp.

    8. Chỉnh trục trong trường hợp bị thoái hóa khớp.

    9. Áp dụng trong việc hàn khớp.

    10. Lắp các khoảng xương hở.

    11. Điều trị những gãy xương hơ mất xương nhiễm trùng.

    12. Điều trị các viêm xương đường máu mất xương.

    13. Kéo dài mõm cụt chi.

    14. Chỉnh xương xương hàm dưới trong những tật bẩm sinh bị xương hàm nhỏ.

    15. Điều trị các trường hợp chi nhỏ do bệnh mạch máu.

    16. Chữa các tật lùn bẩm sinh.

  2. #2
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Cool

    B. Chống chỉ định:

    1. Kỹ thuật này được áp dụng ở nhiều trường hợp tùy theo trình độ của người bác sĩ và tùy theo trang thiết bị. Tuy nhiên kỹ thuật này cũng có những chống chỉ định đó là ácc trường hợp tật lùn do những rối loạn của khớp và những sai triển của mặt khớp không thể kéo dài chi vì lúc đó mặt khớp không thể chịu đựng nổi áp lực do sự kéo dài sẽ đưa đến tình trạng thoái hóa.

    2. Nếu hai chi không đều nhau đối với chi dưới thì kỹ thuật này chỉ được áp dụng khi nào chân ngắn hơn 2cm, chứ còn khi độ ngắn không đến 2cm thì không cần thiết áp dụng kỹ thuật này vì đây là cuộc mổ lớn có nhiều biến chứng và nếu muốn cân bằng hai chân, người có thể chỉnh thêm đế giày dép dễ hơn, ít nguy hiểm hơn.


    Nguồn internet


    Muốn cao hơn bao nhiêu?

    Thường thì kỹ thuật này có thể cho cao thêm hay dài ra từ 5 – 10cm hoặc là 15cm tùy theo nhưng khi kéo căng dài thì khả năng biến chứng càng cao. Chiều dài được kéo ra tốt nhất là 5cm, với chiều dài này thì tỷ lệ biến chứng rất thấp từ khoảng 10 – 15%. Do đó cần phải suy nghĩ kỹ trước khi muốn dài bao nhiêu vì thời gian kéo dài của 10cm và 5cm hoàn toàn khác nhau và kỹ thuật đầu tiên như chúng ta biết là phải kéo dài trước, do đó nếu cảm thấy không cần thiết thì không nên kéo chi quá dài.

    Ở độ tuổi nào kỹ thuật này được thực hiện tốt nhất?

    Thường kỹ thuật này được thực hiện khi tuổi của đứa trẻ bắt đầu phát triển chậm từ khoảng 16 – 18 tuổi. Tuy nhiên có thể thực hiện ở lứa tuổi lớn hơn 20 – 30 tuổi. Sở dĩ kỹ thuật này thực hiện vào tuổi cuối thời kỳ phát triển của cơ thể vì lúc đó người phẫu thuật viên có thể xác định được tốc độ tăng trưởng và trong khi đó khả năng tăng trưởng của đứa trẻ vẫn còn. Cho nên đây là thời điểm tốt nhất để thực hiện kỹ thuật kéo dài chi và lúc đó sức lực của người thiếu niên vẫn còn tốt, khả năng phát triển xương vẫn còn.

    Sau khi kéo dài chi có yếu không?

    Xương được kéo dài chưa phải là xong vì các phần mềm (gân cơ, cơ, thần kinh, mạch máu, dây chằng) chưa đáp ứng kịp với tình huống mới. Do đó cần phải tập phục hồi chứn năng một thời gian lâu mau tùy theo mỗi người. Khi cơ xương khớp đã ổn định, đã tập luyện tốt thì chi được kéo dài mạnh không thua gì chi cũ, có khi còn mạnh hơn.

    Kết luận:

    Kéo dài chi là một phẫu thuật lớn, cần thiết bị đầy đủ, cần kinh nghiệm. Do đó cần chú ý các yếu tố đó trong kéo dài chi. Kéo dài chi là tạo sự đẹp với chức năng tốt mà tất cả sự tốt đẹp nào cũng cần phải có công phu và khó nhọc. Do đó người bệnh và bác sĩ cũng phải trả giá cho cái đẹp này. Người bệnh phải chịu cuộc mổ, chịu đau, chịu căng thẳng và người bác sĩ phải có công theo dõi cẩn thận. Nếu cha mẹ bình thường có con bất thường thì họ muốn người con được phẫu thuật càng sớm càng tốt. Nếu cha mẹ bất thường mà con bất thường thì họ cũng muốn cho người con được phẫu thuật nhưng ý muốn này không lớn lắm. Họ biết là phẫu thuật không phải là không có biến chứng và người con có thể xấu hơn. Thường thì đứa trẻ chịu chấp nhận tình trạng khó khăn để có thể cao hơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp cũng không phải dễ dàng quyết định là nên hay không nên kéo dài chi. Cuối cùng, điều quan trọng nhất là ý muốn và sự quyết tâm của người bệnh và khả năng của người thầy thuốc cùng với trang thiết bị của mình.


    (Theo MEDINET)

    Bacsi.com

  3. #3
    keodaichi Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Dec 2010
    Bài viết
    4

    Mặc định

    KÉO DÀI CHÂN - THẮC MẮC CỦA BẠN.
    Bác sĩ Huỳnh Bá Lĩnh





    1. Chiều cao như thế nào là vừa ?
    Theo chuẩn mực của hội họa, chiều caocơ thể con người đẹp nhất khi tuân theo tỉ lệ vàng 1/8. Có nghĩa là nếu xemchiều dài gang tay người ấy là 1, ta có khuôn mặt là 1; thân 4; đùi 2; cẳngchân là 2,0. Tổng cộng lại là 8. Một gang tay bình thường dài khoảng 20 - 25 cm.Như thế chiều cao lý tưởng sẽ là khoảng 1m60 - 1m80. Người ta nhận thấy giữahai người lớn trưởng thành có chiều cao khác nhau thường là do sự khác nhau vềchiều dài hai chân. Chiều dài của mặt, cổ và thân thường chênh lệch nhau khôngđáng kể giữa hai người lớn cùng độ tuổi.

    2. Làm sao để cải thiện chiều cao ?
    Trước đây người ta nghĩ rằng do cácgen di truyền khiến người châu Á có chiều cao thấp kém hơn người châu Âu, châuPhi, hoặc người da vàng lùn hơn người da trắng. Các nhà khoa học đã chứng minh,gen qui định chiều cao của người châu Á, da vàng có thể đạt trên 1m80. Bằngchứng là hiện nay người Nhật cách đây vài chục năm vẫn bị xem là giống dân lùn,nay họ có chiều cao trung bình trên 1m60. Như vậy Về phương diện quần thể,chiều cao được quyết định do vấn đề dinh dưỡng và mức độ vận động thể chất củadân tộc đó. Dinh dưỡng tốt, siêng vận động thể chất là hai yếu tố cải thiệnchiều cao của một cộng đồng dân cư.
    Về phương diện cá thể, với ngườitrưởng thành, hệ xương khớp đã ngưng tăng trưởng, cho đến nay vẫn chưa có mộtloại thuốc nào giúp tăng chiều cao. Với trẻ em, xương đang tăng trưởng, đã cóthời kỳ người ta sử dụng nội tiết tố GH (nội tiết tăng trưởng) hoặc ACTH (nộitiết tố tuyến yên) với hy vọng giúp tăng chiều cao cho trẻ em. Tuy nhiên nó gâynhiều tác dụng phụ nguy hiểm, tạo ra nhiều chứng bệnh khác. Đó là chưa kể nó cóthể gây ra sự phát triển không đồng đều giữa các bộ phận tay chân, đầu mìnhkhiến vóc dáng mất cân đối, không được bình thường.
    Vì thế cho đến nay, dinh dưỡng vàTDTT là hai biện pháp hiệu quả cũng như giúp con người tăng chiều cao cho trẻem và cộng đồng.



    3. Làm sao để cao thêm ?
    Để cao thêm, hiện nay, cách duy nhấtlà phẫu thuật kéo dài chân.

    4. Phẫu thuật kéo dài chân là gì ?
    Phẫu thuật kéo dài chân là phẫu thuậtkéo dài cẳng chân hoặc đùi. Người ta tiến hành cắt xương và gắn vào xương mộtbộ dụng cụ có thể làm tăng dài xương. Khi xương được kéo dãn ra với tốc độ chậmphù hợp, người ta nhận thấy có sự tái tạo xương mới lấp đầy vào khoảng trống đódần dần. Các tế bào gân cơ, mạch máu,và thần kinh cũng tân tạo tương xứng. Kếtquả cuối cùng là có được một cẳng chân (hoặc đùi) mới dài hơn với đầy đủ cáccấu trúc cũng như chức năng như bình thường.

    5. Có bao nhiêu loại phẫu thuật kéo dài chân ?
    Hiện nay có ba kỹ thuật kéo dài chân phổ biến trên thếgiới là Phương pháp Ilizarov chuẩn, phương pháp L.O.N và đinh nội tủy điện tử.
    Tùy theo nền y học của từng quốc giamà người ta sử dụng các loại dụng cụ cố định xương khác nhau nhưng căn bản đềuchung nguyên tắc kéo dãn tạo xương từ xương của Ilizarov.

    6. Sau phẫu thuật kéo dài, đôi chân mới có khác gì vớichân người bình thường hay không ?
    Đương nhiên đôi chân sẽ dài hơn xưa.Nếu thực hiện nghiêm túc các qui định tránh các biến chứng ngoài ý muốn, ngườibệnh sẽ có được một đôi chân dài hoàn toàn bình thường.

    7. Chi phí phẫuthuật bao nhiêu ?
    Chi phí phẫu thuật bao gồm phí khám và xét nghiệm trước mổ, phí phòng mổ,phí thuốc và vật tư phẫu thuật, phí dụng cụ cố định xương và cuối cùng là tiền công cho nhân viên phẫu thuật.
    Hậu phẫu người bệnh còn phải chi trả tiền phòng,tiền thuốc theo toa và phí vận chuyển, khám bệnh, chụp phim cho các lần tái khám sau mổ.
    Hiện tại riêng chi phí phòng mổ đó dao động từ 10 -18 triệu đồng tiền Việt (khoảng 600 - 1000 US $) tùy theo bệnh viện.
    Theo các trang Web trên Internet, chiphí cho phẫu thuật kéo dài chi ở các nước là:
    Thái lan: 460 000baht # 11 500 US$(Bangkok)
    Trung quốc: 15 000 - 25 000 US$ (Bắckinh)
    Hoa kỳ: 70 000 - 100 000 US$

    8. Các loại biến chứng của phẫu thuật kéo dài chân ?
    Có hai loại biến chứng: biến chứngtrong mổ và biến chứng hậu phẫu.
    Trong khi phẫu thuật, ngoài nhữngbiến chứng do gây mê vô cảm, biến chứng do phẫu thuật là:
    · Tổn thương độngmạch gây chảy máu. Thường là do phẫuthuật viên không có kinh nghiệm gây ra, làm sai kỹ thuật và qui trình mổ. Tỉ lệxảy ra khoảng 0,01 %. Khắc phục được bằng cách mở rộng đường mổ nối lại mạchmáu bị rách hoặc đứt.
    · Tổn thương thầnkinh, nhất là thần kinh mác chung đi sau chỏm xương mác. Biến chứng này xảy rakhi phẫu thuật viên xuyên kim đi ra sau chỏm xương mác. Hậu quả sau mổ làm mấtduỗi cổ chân. Tỉ lệ xảy ra khoảng 0,05%. Thông thường bệnh nhân tự hồi phục saumổ 7 - 12 tháng, không cần điều trị. Tổn thương các sợi thần kinh khác như thầnkinh chày, thần kinh hiển chưa có tài liệu y văn nào đề cập.
    Sau mổ, các biến chứng có thể xảy ralà:
    · Dị ứng thuốc: cóthể gây tử vong nếu không điều trị cấp thời, thường là do dị ứng với khángsinh, thuốc giảm đau, truyền lộn nhóm máu.
    · Chèn ép khoang domáu tụ trong bắp chân: gây đau nhức căngcứng bắp chân, nếu trễ có thế làm hoại tử chi do thiếu máu nuôi. Khắc phụ bằngcách mổ xẻ cân giải ép khoang, lấy máu tụ ứ đọng trong khoang. Tốt nhất là thựchiện đúng qui trình kỹ thuật trong cuộc mổ như cầm máu tốt, xẻ cân trước cắtxương... để ngăn ngừa biến chứng này.
    · Nhiễm trùng: sốtvà sưng nhức đỏ các vết thương kéo dài trên 3 ngày sau mổ là dấu hiệu của nhiễmtrùng. Nguyên nhân là do môi trường phòng mổ, bệnh viện vô trùng kém, dụng cụtiệt trùng chưa đúng, thể tạng bệnh nhân suy giảm miễn dịch, băng gạc vếtthương hấp tiệt trùng sai, bị lây lan do nằm gần bệnh nhân nhiễm trùng. Khángsinh thích hợp sẽ khống chế nhanh chóng biến chứng này.
    · Viêm chân đinh:gây đau nhức, thường là do thay băng không dúng kỹ thuật như việc rửa chân đinhbằng oxy già, cồn gây hoại tử tế bào sống quanh chân đinh. Chỉ cần thay băngtheo đúng hướng dẫn của bác sĩ phẫu thuật sẽ phục hồi rất nhanh.
    Biến chứng trong quá trình kéo dãnxương:
    · Nguy hiểm nhất làhoại tử chi do người bệnh tăng chỉnh khung quá nhanh, quá dài. Thường ít khixảy ra nếu có sự kiểm soát vì nó sẽ có dấu hiệu báo trước. Người bệnh sẽ đau dữdội nếu đạt đến mức tới hạn mà cơ thể cho phép. Khi đó nếu sử dụng thuốc giảmđau ức chế cơn đau và tiếp tục kéo dài thì biến chứng này mới xuất hiện. Dễdàng khắc phục bằng cách kiểm tra và báo động cho người bệnh biết. Khi đaunhiều có thể ép ngắn khung trở lại, sẽ hết đau và an toàn.
    · Viêm chân đinh:thời gian mang khung càng lâu, tỉ lệ viêm chân đinh càng nhiều. Chú ý săn sócchân đinh theo sự hướng dẫn của bác sĩ phẫu thuật sẽ hạn chế được viêm chânđinh. Khi có đau chân đinh cùng với rỉ dịch, ngưng chỉnh khung vài ngày, uốngthuốc kháng sinh ngừa nhiễm trùng. Hiện tượng viêm sẽ hết nhanh chóng.

    9. Những khó chịu trong quá trình kéo dài chân ?
    · Đau : đau nhức dovết thương sau mổ, đau nhức các chân đinh, đau nhức do căng dãn cẳng chân. Mứcđộ không nhiều lắm nên có khi không cần phải sử dụng thuốc giảm đau. Nhưng cơnđau bất thường xảy ra cần khám lại với bác sĩ để định rõ nguyên nhân sau đó sẽcó xử trí thích hợp. Tuyệt đối không nên tự ý sử dụng thuốc giảm đau sẽ làm lumờ triệu chứng có thể gây ra những biến chứng không khắc phục được.
    · Tê bàn chân: saumổ bệnh nhân có cảm giác tê chân thường là do sưng nhức vết thương gây ứ nghẽntuần hoàn tĩnh mạch. Nằm kê chân cao sẽ hết tê. Khi kéo dãn cảm giác tê rầnxuất hiện là do căng nhanh và nhiều hơn qui định. Lúc này nên tạm dừngmột vàingày hết tê sẽ tăng lại. Nguyên nhân là mạch máu và thần kinh không dãn theokịp với tốc độ kéo dài của khung.
    · Cử động cổ chânvà gối khó khăn: là do các chân đinh nằm gần gối và cổ chân sẽ gây đau khi cửđộng. Nguyên nhân thứ hai là các gân cơ không dãn nở kịp với tốc độ kéo dãn củaxương. Vì vậy nó gây rút lại. Tăng chỉnh đúng tốc độ và thường xuyên tập vậnđộng hai khớp cổ chân như hướng dẫn của bác sĩ sẽ giúp khắc phục khó chịu này.


    10. Có thể kéo dài chân được bao nhiêu cm ?
    Chiều dài cẳng chân hay đùi kéo dàira phải tuân thủ tỉ lệ ĐÙI/ CẲNG CHÂN >1. Nếu tỉ lệ này nhỏ hơn 1 hay bằng1, người bệnh ngồi xổm bị bật ngửa ra sau do mất cân bằng phía trên. Đùi nếukéo dài quá thì bàn tay có khuynh hướng di chuyển về phía eo lưng sẽ làm mấtcân đối vóc dáng (tay ngắn). Vì thế phải chú ý tỉ lệ CÁNH TAY/ ĐÙI > 1,2.
    Tóm lại kéo dài chân là một công việc thẩm mỹ. Không nên theo quan điểm càng dài càng tốt. Độ dài đạt được phải đảm bảo tính thẩm mỹ cao, tạo được một vóc dáng đẹp cho người bệnh.
    Dài để dáng ta đẹp chứ không phải để cao hơn người khác."
    Lần sửa cuối bởi keodaichi, ngày 04-12-2010 lúc 08:33 AM.

  4. #4
    keodaichi Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Dec 2010
    Bài viết
    4

    Mặc định

    PHƯƠNG PHÁP KÉO DÃN QUA ĐINH
    BS HUỲNH BÁ LĨNH
    BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TPHCM







    Kéo dãn qua đinh là một phương pháp phẫu thuật mới dùng để kéo dãn phần chi bằng sự phối hợp cố định ngoài và đinh chốt nội tủy. Khung cố định ngoài được sử dụng như động cơ để kéo dãn . Còn đinh chốt nội tủy dùng để duy trì độ dài chi cho đến khi xương mới lấp đầy.
    Từ tháng 12/2004 đến nay, chúng tôi có 17 ca đã được phẫu thuật kéo dãn qua xương cho kết quả tốt. Thời gian mang khung cố định ngoài chỉ bằng 1/4 - 1/3 thời gian của phương pháp Ilizarov chuẩn cho cùng một chiều dài đạt được. Biến chứng ít hơn và sự hài lòng của bệnh nhân là những ưu điểm của phương pháp này.

    SƠ LƯỢC LỊCH SỬ
    Kéo dãn qua đinh được thực hiện từ năm 1991 bởi hai bác sĩ người Mỹ là John Herzenberg và Dror Paley. Đến 1997, hai ông chính thức công bố trên tạp chí JBJS công trình nghiên cứu này.
    Các ông thực hiện trên 29 bệnh nhân (23 đùi), so sánh với 31 bệnh nhân (32 đùi) bằng phương pháp Ilizarov chuẩn. Nghiên cứu đã kết luận rằng phương pháp kéo dãn xương qua đinh làm giảm thời gian mang khung cố định ngoài 2 lần, giảm gãy xương sau khi tháo khung 6 lần, phục hồi chức năng nhanh hơn 2, 2 lần, biến chứng tỉ lệ 1,4% so với 1,9% ở nhóm pp Ilizarov.
    Hiện tại phương pháp này chỉ mới áp dụng ở một vài quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật bản, Trung quốc, Hàn quốc, và Thổ nhĩ kỳ.


    PHÂN LOẠI KỸ THUẬT
    Có 3 kỹ thuật kéo dãn qua đinh là
    • L.O.N: (Lengthening Over Nail): Đặt khung và đinh nội tủy cùng lúc. Khi đạt đến chiều dài mong muốn, tháo khung và chốt đầu xa của đinh.
    • L.A.T.N: (Lengthening And Then Nailing): đặt khung kéo dãn đạt đủ chiều dài thì tháo khung và đóng đinh chốt vào để duy trì độ dài đó.
    • T.O.N: (Transport Over Nai)l: kéo trượt xương theo đinh: điều trị mát đoạn xương trên 3 cm, giống như phương pháp Ilizarov nhưng có đinh nội tủy chốt ở giữa giúp đoạn xương thẳng trục và dễ lành xương ở đoạn xa hơn.

    TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
    1. Tổng số bệnh nhân: 17 người, gồm 9 nữ và 7 nam.
    2. Tuổi: 18 – 43 tuổi
    3. Số lượng nghiên cứu: 25 cẳng chân và 4 đùi

    THỜI GIAN NGHIÊN CỨU: 12/2003 – 12/2007

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    1. Qui trình phẫu thuật:
    Phẫu thuật 1
    • Đặt đinh nội tủy
    • Chốt vis đầu gần của đinh chốt
    • Cắt xương chày ở vị trí 1/3 trên.
    • Đặt khung cố định ngoài dạng vòng
    • Cắt xương mác 1/3 dưới.
    • Đóng da các đường mổ.
    Chăm sóc hậu phẫu:
    • Nằm nghỉ nâng cao chân từ 1- 3 ngày đầu sau mổ.
    • Tập cơ tứ đầu đùi, co gối và cử động cổ chân
    • Tập đi khung ngày thứ 4 – ngày thứ 10 hậu phẫu.
    • Xuất viện ngày thứ năm hậu phẫu.
    • Căng dãn khung ở nhà vào ngày thứ 10 hậu phẫu. Tốc độ 0.5 – 1mm/ngày.
    • Ngừng chỉnh khung khi đạt đến chiều dài mong muốn
    Phẫu thuật 2:
    • Chốt 2 vis vào đầu xa của đinh chốt với hỗ trợ của C-arm
    • Tháo khung cố định ngoài.
    • Kéo dài gân gót nếu bị co rút.
    • Tập đi với nạng trong 3 tuần sau đó chuyển qua đi bỏ nạng.
    2. Xquang:
    • Can xương có thể xuất hiện ngay sau vài tuần đầu kéo dãn khung.
    • Can xương mọc quanh cây đinh và lấp đầy hoàn toàn từ 9 – 12 tháng.
    • Hình thành vỏ xương từ tháng 15 – 18 hậu phẫu.
    • Lành xương hoàn toàn sau 2 năm.

    3. Nguyên lý chọn dụng cụ
    • Không để kim hay đinh cố định ngoài tiếp xúc với đinh nội tủy vì nó sẽ gây viêm nhiễm.
    • Đường kính đinh nội tủy và kim, đinh cố định ngoài cần nhỏ để giảm tối đa diện tích tiếp xúc
    • Đinh nội tủy phải đủ cứng để chịu đựng sức tải khi bỏ khung.
    • Hệ thống chốt vis vào đinh cần phải chính xác
    • Đinh phải trơn láng để dễ dàng kéo trượt.
    • Khung cố định ngoài đóng vai trò động cơ chuyển động nên phải đủ sức kéo dãn thắng lực ma sát trong ống tủy và lực kéo phản lực của hệ thống cơ bắp của chi.
    • Hệ thống điều chỉnh khung căng dãn phải đơn giản, dễ thực hiện vì nó được bệnh nhân thực hiện tại nhà.
    4. Chọn lựa của chúng tôi.
    • Khung cố định ngoài: khung Ilizarov
    • Đinh nội ủy chốt: đinh SIGN của Dr Lewis Zirkle (USA)

    KẾT QUẢ:
    1. Đánh giá Xquang:
    • Thời điểm tạo can xương
    Tháng thứ 1 Tháng thứ 2 Tháng thứ 3 Tháng thứ 4 Tháng thứ 5 Tháng thứ 6
    Ca 11 4 1 1 (43 tuổi)

    • Thời điểm nối hai đầu xương
    Hậu phẫu 3 tháng 4 tháng 5 tháng 6 tháng 7 tháng Tháng 8 9 tháng 10 tháng
    Ca 0 4 4 7 1 0 0 1

    • Thời điểm can xương lấp đầy
    Hậu phẫu 6 tháng 7 tháng 8 tháng 9 tháng 10 tháng 11 tháng 12 tháng
    Ca 2 3 4 6 0 0 1

    • Thời điểm hoàn tất vỏ xương
    Hậu phẫu 12 tháng 15 tháng 18 tháng 21 tháng 24 tháng 27 tháng
    Ca 0 6 7 2 1 0


    2. Đánh giá chức năng:
    • Tầm độ khớp gối
    Tất cả đều gấp gối hoàn toàn hết tầm độ như trước mổ.
    • Tầm độ cổ chân
    Tất cả các bệnh nhân đều được khuyên tập cổ chân ngay từ sau phẫu thuật. Tất cả các bệnh nhân đều phục hồi hoàn toàn khớp cổ chân do đó đều có thể ngồi xổm được sau khi tháo khung 3 tháng.
    • Đi bộ
    Tất cả các bệnh nhân đều tập đi khung sau mổ 3 ngày. Bệnh nhân có thể tập bỏ khung bỏ nạng sau khi tháo khung cố định ngoài 2 – 4 tuần.
    • Chạy nhảy
    Bệnh nhân được phép chạy nhảy sau khi xương lấp đầy khỏang trống. Thường là 6 tháng sau khi tháo khung cố định ngoài. Khi đó họ có thể chơi các môn thể thao mạnh như đá banh, võ thuật…
    • Đạp xe – Lái xe moto hai bánh
    Đã có hai bệnh nhân nam trẻ có thể lái xe moto khi còn mang khung cố định ngoài. Tuy nhiên thường là sau khi tháo khung 3 tháng khi tầm độ các khớp phục hồi hoàn toàn thì đạp xe và lái xe mới thật sự an toàn. Thông thường là khi trên X quang có dấu hiệu can nối hai đầu xương.

    3. Than phiền của bệnh nhân
    • Đau chân đinh ở gối hay cổ chân: có thể xuất hiện trong vài tuần đầu khi mới căng dãn khung cố định ngoài và tự giảm dần. Có 9/17 trường hợp có đau. Đau xuất hiện trở lại khi đạt tới chiều dài tối đa. (16/17 ca). Đây cũng là dấu hiệu lâm sàng báo hiệu cần chấm dứt sự kéo dãn.
    • Đau cổ chân: có 2/12 bệnh nhân bị đau cổ chân nhưng tự hết sau khi tập cổ chân đạt hết tầm độ bình thường.
    • Co rút gân gót: thường gặp nếu bệnh nhân không chú ý tập ngay sau khi phẫu thuật. Có 3 ca do tăng chỉnh nhanh hơn tốc độ qui định. Khắc phục bằng cách tập cổ chân và chỉnh khung chậm, 0,5cm/ngày.
    • Sưng bàn chân-cổ chân: có thể xuất hiện trong hai tuần hậu phẫu. Khắc phục bằng cách nằm kê cao chân 3 ngày đầu sau mổ. Nguyên nhân do suy yếu hệ tĩnh mạch ngoại biên chi dưới.
    • Đau gối: thường là do cấn vòng cố định ngoài.
    • Ngồi thấp khó đứng dậy: xuất hiện khi cẳng chân dài ra trên 3 cm. Nguyên nhân khác là do cấn hai bộ khung cố định ngoài dạng vóng. Khắc phục bằng cách ngồi ghế cao trước khi đứng dậy.
    • Giới hạn gập gối: 1 ca kéo dài hai đùi. Sau khi tháo khung 2 tháng, bệnh nhân chỉ gấp được 100°

    4. Biến chứng của kỹ thuật
    • Gãy xương không di lệch ở vị trí khoan vis chốt đinh: 1 ca. Nguyên nhân do khoan tạo nhiều lỗ trên xương khi bắt vis qua lỗ đinh đầu xa. Bệnh nhân được bó bột Sarmiento 4 tuần.
    • Viêm xương nhiễm trùng: ngoài viêm chân đinh, chưa có ca nào bị nhiễm trùng vết thương, dò mủ hay hình ảnh viêm xương.
    • Bắt vis chốt ra ngoài: 1 ca. Trong 2 vis bắt chốt đầu xa có 1 vis bắt ra ngoài ở chân trái. Ca này kéo dài xương đùi hai chân. Đinh chốt ngược dòng từ gối lên.
    • Viêm chân đinh cố định ngoài:
    - do căng dãn quá mức (4 ca)
    - xuyên kim không vuông góc với trục xương (1 ca).
    - săn sóc chân đinh không đúng cách (3 ca).

    5. Biến chứng của dụng cụ
    • Gãy kim Kirschner: 1 ca. Nguyên nhân do kim loại yếu.
    • Gãy vòng cố định ngoài: 2 ca. Nguyên nhân do chất liệu xấu.
    • Gãy đầu gần của đinh nội tủy: điểm gãy nằm trên vị trí vis chốt. nguyên nhân chưa rõ, nghi ngờ có thể là đinh hàng nhái chất liệu xấu.

    6. Biến chứng ngoài ý muốn
    • Chậm lành xương: 1 ca. sau 12 tháng, can xương chỉ lấp đầy được 2/3 khoảng trống. Nguyên nhân có thể là lớn tuổi, bệnh nhân nam 43 tuổi.
    • Không kéo dãn được sau mổ: 2 ca.
    - 1ca cẳng chân: chân trái kéo dãn tốt, chân phải chỉ ra được 1 cm và ngừng lại. Bệnh nhân được mổ rút đinh, khoan rộng ống tủy hơn, cắt xương lại, đóng lại đinh chốt. Khi lấy dinh ra thấy được 2 nút xương nằm trong lỗ đinh đầu xa. Sau đó diễn tiến trở lại bình thường.
    - 1 ca đùi: 8 tuần không kéo dãn ra được. bệnh nhân được mổ cắt xương lần 2. Khi cắt, thấy rõ can xương đã dính cứng hai đầu xương. Sau đó bệnh nhân kéo dãn tốt được 5 cm và tháo khung sau 2 tháng.

    BÀN LUẬN:
    Kéo dãn qua đinh là một phương pháp phẫu thuật mới dựa trên cơ sở lý thuyết của phương pháp Ilizarov. Điểm khác biệt chính yếu là nó phối hợp khung cố định ngoài và đinh nội tủy. Trước đó, nhiều nhà phẫu thuật chỉnh hình e ngại điều này có thể gây ra nhiễm trùng viêm xương do sự thông thường từ ngoài vào trong. Thực tế cho thấy tỉ lệ nhiễm trùng không đáng kể và chưa thấy trường hợp nào bị viêm xương. Tuy nhiên số liệu còn quá ít để kết luận về nguy cơ này. Chúng ta cần thêm thời gian để thu thập số liệu và chứng cứ cho phương pháp này.
    Ưu điểm so với phương pháp Ilizarov chuẩn là: thời gian mang khung ngắn hơn, ít đau hơn, không bị gãy xương thứ cấp sau khi tháo khung, hình thành vỏ xương nhanh hơn.
    Khuyết điểm là kỹ thuật phức tạp hơn, dụng cụ nhiều hơn, chi phí phẫu thuật cao hơn và cần tay nghề nhiều kinh nghiệm hơn.
    Hướng phát triển của Kéo Dãn Qua Đinh là hoàn thiện kỹ thuật kéo trượt tạo xương trong mất đoạn xương dài, một vấn đề khó của phẫu thuật chỉnh hình.

    KẾT LUẬN
    Phương pháp Kéo Dãn Qua Đinh đưa ra sự kết hợp hai hệ thống cố định xương trong phẫu thuật chỉnh hình: cố định trong và cố định ngoài. Trong quá khứ điều này từng được xem là ʽʽcấm kỵ” của phẫu thuật xương khớp.
    Xuất phát từ phương pháp Ilizarov truyền thống, Kéo Dãn Qua Đinh đã khắc phục nhiều khuyết điểm của phương pháp này và chứng tỏ sự vượt trội trong các phẫu thuật Tạo Xương Từ Xương.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •