Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Cool Siêu âm trong bệnh cơ tim

    BỆNH CƠ TIM



    TS. Hoàng Anh


    Bệnh cơ tim, hay còn gọi là bệnh cơ tim nguyên phát( Cardiomyopathy ) là những bệnh lý của cơ tim không rõ nguyên nhân, tuy nhiên cũng có một số yếu tố được nêu ra Nhưng không thoả đáng và cho đến hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề về cơ chế bệnh sinh vẫn ch­a hoàn toàn sáng tỏ, nên vẫn được coi là bệnh cơ tim nguyên phát. Để chẩn đoán bệnh cơ tim chúng ta có thể dựa vào lâm sàng, các xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh, siêu âm, điện tim, thậm chí sinh thiết, trong đó siêu âm đóng vai trò quan trọng, mặc dù kết quả sinh thiết mới được coi là chính xác nhất, Nhưng do tính chất nguy hiểm của nó nên th­ường chỉ được tiến hành trong nghiên cứu là chính. Có nhiều bệnh cơ tim khác nhau và được chia thành 3 nhóm bệnh như sau:

    - Bệnh cơ tim phì đại

    - Bệnh cơ tim thể giãn

    - Bệnh cơ tim hạn chế


    Nhìn chung việc điều trị những bệnh này còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là điều trị nội khoa, với chữa triệu chứng là chính, tuy cũng có một số tr­ường hợp điều trị phẫu thuật, Nhưng nhìn chung kết quả còn hạn chế, đặc biệt đối với bệnh cơ tim thể giãn.

    1.Bệnh cơ tim phì đại

    Biểu hiện của bệnh là sự dày lên một cách bất th­ường của một vùng
    (Asymmetric Hypertrophy ), hay toàn bộ thất trái( Symmetric Hypertrophy) , mà không phải do tăng huyết áp hoặc tắc nghẽn đ­ường tống máu ra của thất trái, như hẹp van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ... Vị trí vùng cơ tim bị phì đại hay gặp nhất là vách liên thất ( Asymmetric Septum Hypertrophy – ASH ), có thể chỉ một phần của vách hay toàn bộ vách, nó có thể gây tắc nghẽn, hoặc không đối với đ­ường tống máu ra của thất trái. Ngoài ra vị trí dày thành thất có thể là thành sau, mỏn tim... Mức độ phì đại toàn bộ hay khu trú của các vùng cơ tim rất khác nhau, có thể có vùng dày nhiều, còn các vùng khác hoàn toàn bình th­ường, hoặc cũng dày lên Nhưng mức độ nhẹ hơn so với vùng phì đại chính. Siêu âm tim đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoàn bệnh cơ tim phì đại, nó có thể cung cấp những thông tin về vị trí, mức độ phì đại, chức năng co bóp của các vùng bị phì đại, cũng như chức năng tâm thu, tâm tr­ương của toàn bộ thất trái, nó không những có ý nghĩa trong chẩn đoán mà còn có vai trò theo dõi, đánh giá kết quả điều trị. Trong các thể khác nhau của bệnh cơ tim phì đại, thì ASH là thể đặc biệt nhất, vì nó không những là bệnh điển hình, th­ường gặp nhất và cũng có nhiều điểm cần quan tâm nhất. Vì thế trong bài này chúng tôi giới thiệu chủ yếu về bệnh này, còn các thể khác của bệnh cơ tim phì đại chúng ta cũng có thể chẩn đoán được bằng siêu âm, nhất là siêu âm 2D với không mấy khó khăn. Tuy nhiên trong chẩn đoán bệnh cơ tim phì đại nói chung và ASH nói riêng có một số điểm cần chú ý để tránh nhầm lẫn.

    - Tuổi bệnh nhân. Thông th­ường những bệnh nhân trẻ tuổi khi trên siêu âm có hình ảnh phì đại vách liên thất thông th­ường là ASH, tuy vậy đối những người lớn tuổi đôi khi có thể không hoàn toàn như vậy. Có một số người già vách liên thất có cấu trúc hình “Σ - sigma” với phì đại phần đáy của vách liên thất, điều này có thể dẫn đến cản trở dòng tống máu ra thất trái t­ương tự như ASH, tuy nhiên thông th­ường phần phì đại và cản trở dòng máu này không nhiều.

    - Một số nguyên nhân khác cũng có thể gây phì đại thất trái với ­u thế phần vách liên thất, nên trên siêu âm 2D và TM có hình ảnh giống ASH như do hẹp van động mạch chủ hoặc tăng huyết áp cũng cần chú ý để tránh nhầm lẫn trong chẩn đoán. Thậm chí một số thâm nhiễm từ ngoài tim vào vách liên thất hoặc huyết khối thành, có chiều dày mỏng bám vào vách liên thất, ngay cả khi trên những bệnh nhân trước kia có tăng huyết áp, sau này lại bị nhồi máu thành sau d­ới làm cho vùng này bị mỏng đi dẫn đến tỷ lệ chiều dày vách liên thất trên thành sau tăng lên trên 1,3 cũng có thể gây nhầm lẫn trong chẩn đoán.

    Trên siêu âm phì đại vách liên thất không đối xứng có những dấu hiệu chính sau đây.

    1.1 Dày vách liên thất.


    - Thông th­ường chiều dày của của các thành thất trái được đo trên siêu âm TM, Nhưng ở đây ph­ương pháp này nhiều khi gặp khó khăn do vách liên thất quá dày nên không tách ra khỏi thành tự do thất phải. Mặt khác do hình dáng của vách liên thất và buồng thất trái có thay đổi so với bình th­ường nên các mặt cắt TM dù có điều chỉnh h­ớng về phía mỏn tim cũng th­ường không đạt được yêu cầu vuông góc với vách liên thất, do đó nếu đo trên siêu âm TM sẽ làm tăng đáng kể giá trị của nó so với thực tế. Chính vì thế siêu âm 2D th­ường được sử dụng để đo chiều dày của vách liên thất, có thể dùng các mặt cắt trục dài cạnh ức trái, Nhưng thông th­ường là 4 buồng tim từ mỏn. Chiều dày của vách liên thất có thể tăng lên nhiều trong ASH, thông th­ường vào khoảng trên d­ới 20 mm, Nhưng cũng có tr­ường hợp cá biệt lên tới 30 mm. Tiêu chuẩn chẩn đoán của ASH khi tỷ lệ chiều dày của vách liên thất tâm tr­ương / thành sau tâm tr­ương > 1,3.

    - Vách liên thất có cấu trúc âm thô hơn bình th­ường, thể hiện có giải hơi đậm âm và không mịn như tổ chức cơ tim không phì đại, do tăng sinh các tổ chức liên kết, các tế bào cơ tim th­ường ngắn và tăng kích th­ớc.

    Sự dày lên của vách liên thất là do bệnh lý của cơ tim, Nhưng mặt khác trong những tr­ường hợp sự phì đại này gây tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái thì đó cũng là một yếu tố góp phần làm tăng mức độ phì đại cơ tim.



    Phì đại vách liên thất không đồng tâm


    1.2 Giảm vận động vách liên thất.


    Khác với những tr­ường hợp phì đại thất trái có tính chất sinh lý như tim vận động viên, vách liên thất trong ASH th­ường giảm vận động một cách rõ rệt, thể hiện trên sự thay đổi chiều dày trong kỳ tâm thu không khác nhiều lắm so với tâm tr­ương và trên siêu âm TM chúng ta có thể quan sát thấy sự vận động của vách liên thất vào trong lòng thất trái khi tâm thu rất ít, sự chênh lệch Dd và Ds chủ yếu do thành sau co bóp . Giảm vận động của vách liên thất có nhiều nguyên nhân, trước hết do thay đổi cấu trúc của chính bản thân vùng cơ tim phì đại, mặt khác khối l­ượng cơ vách liên thất tăng lên rất nhiều trong khi đó l­ượng máu do tuần hoàn vành cung cấp không thay đổi nên nhìn chung có thiếu máu t­ương đối trong vách liên thất, chính điều này cũng là nguyên nhân gây giảm vận động.

    1.3 Sự thay đổi hình thể thất trái trong ASH.


    Lòng thất trái hẹp lại do vách liên thất dày lên, nên nhìn trên siêu âm 2D ở mặt cắt 4 buồng tim thất trái giống hình quả chuối, nhiều tr­ường hợp vách liên thất dày đến mức thể tích thất trái cuối kỳ tâm tr­ương trở nên rất nhỏ, chính điều này ảnh h­ưởng nhiều đến chức năng tâm thu thất trái do giảm thể tích nhát bóp ( Strock Volume -SV).

    1.4 Chức năng tâm thu, tâm tr­ương trong ASH.


    - Buồng thất trái hẹp lại, thể tích thất trái cuối kỳ tâm tr­ương giảm, vách liên thất giảm vận động, trong khi đó th­ường thành sau thất trái tăng c­ường vận động bù trừ, tuy vậy chức năng tâm thu thất trái cũng có những biến đổi nhất định. Các chỉ số E- IVS , FS% , %PW, EF% th­ường không thay đổi. Trong khi đó EDV , ESV, SV, %IVS , CO , CI giảm, nguyên nhân chủ yếu là do SV giảm, ET th­ường kéo dài, Nhưng IVCT giảm. Tuy nhiên những dấu hiệu chức năng tâm thu trên lâm sàng th­ường kín đáo và trong một thời gian dài bệnh nhân th­ường không có biểu hiện gì.

    - Những biến đổi về chức năng tâm tr­ương. Th­ường bệnh nhân có biểu hiện sớm của rối loạn chức năng tâm tr­ương với các dấu hiệu giãn bất th­ường, thể hiện VE giảm, VA tăng, nên tỷ lệ VE/VA giảm, IVRT tăng, DT tăng. Các biểu hiện này th­ường duy trì trong một thời gian dài, chỉ ở thời kỳ muộn sau này khi các biểu hiện của suy tim đã nặng các dấu hiệu của suy chức năng tâm tr­ương mới chuyển sang giai đoạn nặng hơn. Những biến đổi của các chỉ số đánh giá chức năng tâm tr­ương thất trái th­ường có biến đổi nhẹ trong quá trình điều trị, do đó cũng có ý nghĩa theo dõi kết quả điều trị , Nhưng th­ường không thay đổi được giai đoạn từ giãn bất th­ường về lại bình th­ường.

    1.5 Tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái.


    Trong số bệnh nhân ASH có một số người có biểu hiện tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái, do phần vách liên thất phì đại cản trở dòng máu đi ra từ thất trái trong kỳ tâm thu. Tuy nhiên mức độ tắc nghẽn nhiều hay ít không hoàn toàn do mức độ dày vách liên thất quyết định, mà đôi khi do vị trí phì đại. Khi một bệnh cơ tim phì đại có biểu hiện tắc nghẽn người ta gọi là bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn ( Hypertrophic Obstructive Cardiomyopathy- HOCM ), hay đôi khi còn được gọi là bệnh cơ tim phì đại vô căn có hẹp d­ới van động mạch chủ ( Idiopathy Hypertrophic Subaortic Stenosis – IHSS ). Đối với một bệnh nhân bị ASH nếu có thêm dấu hiệu tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái tiên l­ượng sẽ không tốt, tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào mức độ tắc nghẽn. Chính vì vậy trong chẩn đoán bằng siêu âm tim chúng ta phải xác định được có tắc nghẽn hay không và mức độ tắc nghẽn, bởi vì nếu tắc nghẽn nhiều đôi khi phải điều trị ngoại khoa. Một số dấu hiệu siêu âm d­ới đây chứng tỏ sự tắc nghẽn trong ASH.

  2. #2
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Mặc định


    1.5.1 Dấu hiệu SAM ( Systolic Anterior Motion ).


    Dấu hiệu này được phát hiện trên siêu âm TM cắt qua van 2 lá. Đó là hình ảnh van 2 lá vận động về phía trước trong kỳ tâm thu. Hình ảnh SAM điển hình là trong đầu thì tâm thu các thành phần của van 2 lá vận động về phía vách liên thất, sau đó lại di động về vị trí bình th­ường trước khi tâm tr­ương. Dấu hiệu siêu âm này không những cho phép chúng ta chẩn đoán tắc nghẽn mà còn cho biết cơ chế tắc nghẽn, đó là các cấu trúc van 2 lá cản trở dòng máu tống ra từ thất trái. Đồng thời khi quan sát van 2 lá chúng ta cũng có thể nhận xét phần nào mức độ tắc nghẽn. Nếu van 2 lá chạm đến vách liên thất và thời gian đó càng kéo dài thì mức độ tắc nghẽn càng nặng. Điều này rất phù hợp với kết quả ghi được trên siêu âm Doppler. Chính vì vậy có thể căn cứ vào khoảng cánh từ SAM tới vách liên thất để đánh giá mức độ nặng của SAM:

    - SAM mức độ nhẹ: Khoảng cách SAM tới vách liên thất > 10mm

    - SAM trung bình: Khoảng cách SAM tới vách liên thất < 10mm

    - SAM nặng: Khi thời gian van 2 lá chạm đến vách liên thất > 30% thời gian tâm thu.

    Ngoài siêu âm TM, dấu hiệu SAM cũng có thể thấy qua siêu âm 2D và cả bằng đầu dò thực quản, tuy nhiên siêu âmTM vẫn là thích hợp nhất.

    Có nhiều ý kiến về cơ chế của dấu hiệu SAM, một số tác giả cho rằng SAM được hình thành từ những bộ phận của van 2 lá, trong một số tr­ường hợp cả lá trước và lá sau cùng vận động về phía vách liên thất, trong tr­ường hợp khác chỉ có một lá van và đôi khi chỉ có các dây chằng, hay cột cơ. Tuy vậy nhiều người cho rằng chỉ khi nào chính các lá van tạo ra dấu hiệu SAM thì mới gây tắc nghẽn. Vấn đề này liên quan đến cả vận động của thất trái và dòng chảy trong thất trái.

    Trong thực tế có những tr­ường hợp SAM chỉ xuất hiện khi gắng sức, hoặc khi chúng ta thực hiện một số biện pháp như cho bệnh nhân làm nghiệm pháp Valsalva, hoặc khi dùng amylnitrit, tiêm Isoproterenol.

    Tuy nhiên không phải chỉ có ASH mới có SAM, mà một số bệnh nhân phì đại thất trái đồng tâm cũng có thể có dấu hiệu SAM, như một số tr­ường hợp bệnh nhân có hẹp, hở van động mạch chủ. Ngoài ra trên bệnh nhân ASH nếu có kết hợp với một số bệnh khác như thiếu máu, tràn dịch màng ngoài tim... cũng dễ xuất hiện dấu hiệu SAM hơn khi không có các bệnh kết hợp này.

    1.5.2 Dấu hiệu đóng sớm van động mạch chủ.


    Van động mạch chủ đóng sớm giữa kỳ tâm thu chứng tỏ sự hạ áp lực đột ngột giữa kỳ tâm thu tại đ­ường tống máu ra thất trái. Sau đó áp lực lại tăng trở lại và van động mạch chủ lại mở ra, do đó trên siêu âm TM lá trước van động mạch chủ có hình cánh b­ớm.

    Dấu hiệu này cũng có thể gặp trong thông liên thất cao, hẹp d­ới van đông mạch chủ, sa van 2 lá , tách thành động mạch chủ.


    1.5.3 Những dấu hiệu trên siêu âm Doppler.


    - Để đánh giá mức độ tắc nghẽn, siêu âm Doppler đóng vai trò quan trọng nhất. Thông th­ường Doppler sóng liên tục là thích hợp nhất vì nó đo được dòng chảy tốc độ cao. Trên mặt cắt 5 buồng tim, d­ới h­ớng dẫn của siêu âm màu, đặt cửa sổ Doppler vào vị trí có dòng chảy rối nhất chúng ta sẽ ghi được một phổ Doppler âm với s­ờn xuống thoai thoải, đặc điểm này khác với phổ Doppler của hẹp van động mạch chủ. Từ phổ Doppler này bằng cách áp dụng các ph­ương pháp tính thông th­ường ta có các giá trị Max PG, Mean PG và có thể đánh giá mức độ nặng, nhẹ của tình trạng tắc nghẽn qua các thông số trên. Trong tr­ường hợp không có siêu âm màu cửa sổ Doppler đặt ở vị trí phình ra nhiều nhất của vách liên thất, hoặc di chuyển cửa sổ Doppler cho đến khi nào thu được phổ sóng có tốc độ cao nhất. Khi ghi đồng thời hình ảnh TM qua van 2 lá và Doppler sóng liên tục tại đ­ường tống máu ra thất trái thấy tốc độ đỉnh của sóng Doppler t­ương ứng với vị trí gần nhất của van 2 lá so với vách liên thất, điều đó chứng tỏ vai trò của van 2 lá trong tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái. Những nghiên cứu qua thông tim và siêu âm cũng cho thấy sự phù hợp cao của 2 ph­ương pháp này trong đánh giá mức độ nặng của tắc nghẽn.

    - Cần chú ý rằng trong một số tr­ường hợp tắc nghẽn toàn thì tâm thu mức độ nặng nhiều khi đỉnh nhọn của phổ Doppler không rõ ràng nữa và chúng ta có thể không đánh giá chính xác giá trị thực của phổ Doppler này.

    - Đôi khi cũng có thể gặp dấu hiệu tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất phải trong bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn và hình dạng phổ Doppler cũng t­ương tự như bên thất trái, tuy tốc độ th­ường nhỏ hơn.

    - Siêu âm màu th­ường chỉ có giá trị định tính cho biết có tắc nghẽn hay không ( qua màu khảm ở đ­ường tống máu ra thất trái) và giúp xác định vị trí đặt cửa sổ Doppler để có thể ghi được tốc độ tối đa, đó là nơi dòng chảy bị khảm nhiều nhất trong buồng thất trái.

    - Doppler xung không ghi được dòng chảy tại chỗ tắc nghẽn Nhưng có thể giúp xác định vị trí nghi là bị tắc nghẽn nhiều nhất, mặt khác nó giúp phân biệt với hẹp van động mạch chủ nếu thấy một dòng chảy không cao khi đặt cuawr sổ Doppler vào van dộng mạch chủ. Trong tr­ường hợp ASH có tắc nghẽn ta có thể ghi được hiện t­ượng giảm tốc độ đột ngột giữa tâm thu của dòng chảy qua van động mạch chủ, t­ương ứng với dấu hiệu đóng sớm van động mạch chủ giữa kỳ tâm thu.

    - Các dấu hiệu hở van 2 lá th­ường gặp trong bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, do sự vận động của lá van 2 lá về phía trước trong kỳ tâm thu, Nhưng th­ường là hở ở mức độ không nặng. Hở van 2 lá có thể thấy trên siêu âm màu và siêu âm Doppler. Tuy nhiên cần phân biệt phổ Doppler của dòng chảy do tắc nghẽn đ­ường tống máu ra thất trái với phổ hở van 2 lá ( phổ hở van 2 lá th­ường đầu tù và bắt đầu sớm, từ giai đoạn đầu tâm thu ).

    Siêu âm tim còn có vai trò đánh giá, theo dõi kết quả điều trị, nhất là điều trị phẫu thuật với những tr­ường hợp tắc nghẽn nặng. Nhiều hình ảnh có sự cải thiện rõ rệt rối loạn huyết động đã được quan sát thấy khi so sánh kết quả siêu âm trước và sau phẫu thuật.

    2. Bệnh cơ tim thể giãn.

    Đây là bệnh cơ tim không rõ nguyên nhân, tuy có một số yếu tố có thể coi là điều kiện thuận lợi như uống r­ợu, thai sản , yếu tố gia đình, Nhưng không rõ ràng và chắc chắn. Tiến triển tự nhiên của bệnh th­ường không tự hồi phục và nặng dần lên và tử vong do suy tim ứ trệ, ngay cả việc can thiệp điều trị cũng chỉ có ý nghĩa làm chậm quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh và kể cả ghép tim cũng không thực sự khả quan. Bệnh có một số đặc trưng sau:

    - Giãn thất trái, có hoặc không kèm theo giãn các buồng tim khác.

    - Tăng khối l­ượng cơ thất trái, Nhưng thành thất lại mỏng đi hơn mức bình th­ường, khối l­ượng cơ thất trái tăng là do giãn buồng tim.

    - Giảm chức năng tâm thu thất trái, hoặc có kèm theo cả suy chức năng tâm tr­ương.

    - Hay gặp huyết khối và hở van 2 lá, 3 lá.

    2.1 Những dấu hiệu trên siêu âm TM và 2D.

    - Một tiêu chuẩn bắt buộc để chẩn đoán bệnh cơ tim thể giãn là tăng thể tích thất trái. Điều này thể hiện trên siêu âm TM là các chỉ số Dd, Ds đều tăng, thể tích thất trái EDV và ESV tính theo ph­ương pháp Teichholz hay Simpson đều cao hơn bình th­ường.

    - Trên siêu 2D thất trái có dạng gần hình cầu, do giãn theo trục ngang nhiều hơn là theo trục dọc của tim.

    - Chiều dày thầnh thất trái thể hiện qua chỉ số IVSd và PWd phần lớn cũng giảm ( thành thất trái mỏng đi ), Nhưng dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc.

    - Tất cả các vùng thất trái đều giảm vận động, biểu hiện qua các chỉ số chênh lệch giữa độ dày thành thất giữa tâm thu giảm, nên %IVS và %PW cũng giảm, đồng thời trên siêu âm 2D thấy tình trạng giảm vận động đồng đều ở tất cả các vùng thất trái.

    - Có thể gặp giãn các buồng tim khác như thất phải, nhĩ trái, nhĩ phải, trong đó giãn các buồng tâm nhĩ th­ường chỉ là hậu quả của tình trạng suy tim và hở van tim.

    - Tỷ lệ gặp huyết khối trong thất trái lên tới 50%, chủ yếu ở mỏn tim, do tốc độ dòng máu ở vùng này thấp nhất, một số tr­ường hợp khác thấy hiện t­ượng máu quẩn trong thất trái, huyết khối và máu quẩn trong các buồng tim khác có thể gặp, song với tần suất thấp hơn nhiều.

    - Tràn dịch màng ngoài tim cũng hay gặp , Nhưng th­ường với mức độ ít và không gây dấu hiệu ép tim.

  3. #3
    MinhVo's Avatar
    MinhVo Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    2,194

    Mặc định

    2.2 Các dấu hiệu trên siêu âm Doppler và siêu âm màu.

    - Siêu âm màu chủ yếu thấy các dấu hiệu của hở van tim, như hở van 2 lá, 3 lá. Các hở van tim là do giãn thất trái, thất phải làm giãn vòng van gây ra.

    - Siêu âm Doppler, tốc độ dòng máu qua van động mạch chủ, động mạch phổi giảm do giảm chức năng tâm thu thất trái, phải gây ra. Dòng đổ đầy thất trái biến đổi do giảm chức năng tâm tr­ương thất trái.

    - Thông th­ường trong bệnh cơ tim thể giãn có tăng áp lực động mạch phổi ở mức độ vừa phải, chúng ta có thể ­ớc l­ượng áp lực này qua các phổ hở van 3 lá, hở van động mạch phổi.

    2.3 Những thay đổi chức năng thất trái trong bệnh cơ tim thể giãn


    - Chức năng tâm thu thất trái giảm đó là tiêu chuẩn bắt buộc. Trên siêu âm tim những chỉ số về chức năng tâm thu thất trái đều giảm như: E- IVS tăng, FS% giảm, Mean Vcf giảm, đặc biệt FE% giảm rõ rệt, do EDV tăng và SV giảm hoặc ít thay đổi. Tuy vậy cung l­ượng tim nếu tính theo ph­ương pháp Teichholz hoặc Simpson th­ường ít thay đổi hay giảm không nhiều, vì SV tính theo các ph­ương pháp này bao gồm cả l­ượng máu phụt Ngược lại nhĩ trái do hở van 2 lá và một phần khác do tăng tần số tim bù đắp. Trong các chỉ số siêu âm đánh giá chức năng tâm thu thất trái EF% luôn được coi là thông số quan trọng nhất, nó có ý nghĩa tiên l­ượng cao và có thể dùng để theo dõi hiệu quả của các ph­ương pháp điều trị, đặc biệt đối với tâm lý người bệnh, vì trong thực hành lâm sàng những bệnh nhân bị bệnh cơ tim thể giãn th­ường rất nhớ giá trị EF% của mình, nên thày thuốc cần hết sức thận trọng và “tế nhị” khi đo đạc và thông báo cho bệnh nhân chỉ số này.

    - Chức năng tâm tr­ương cũng có những thay đổi nhất định, các giai đoạn rối loạn chức năng tâm tr­ương đều có thể gặp, ban đầu th­ường là kiểu giãn bất th­ường, Nhưng nhiều nhất là giai đoạn giả bình th­ường và rối loạn chức năng tâm tr­ương thể co thắt, tuy nhiên những bệnh nhân ở giai đoạn 3 của rối loạn chức năng tâm tr­ương sẽ có tiên l­ượng rất xấu. Dòng chảy trong tĩnh mạch phổi cũng bị ảnh h­ưởng do tăng áp lực trong nhĩ trái.

    2.4 Chẩn đoán phân biệt.


    Bệnh cơ tim thể giãn cần chẩn đoán phân biệt với tình trạng suy tim ứ trệ do những bệnh tim mạch khác gây ra như bệnh tim thiếu máu cục bộ, giai đoạn muộn của suy tim do tăng huyết áp, do bệnh van tim như hở van 2 lá...

    - Bệnh tim thiếu máu cục bộ trên siêu âm th­ường có rối loạn vận động từng vùng, tuy nhiên ở một số bệnh nhân ở giai đọan muộn thất trái cũng giãn ra và hầu hết các vùng cũng giảm vận động nên rất khó phân biệt, Nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tìm được sự không đồng đều trong rối loạn vận động của chúng, khi tìm thấy sẹo nhồi máu thì chẩn đoán chắc chắn là bệnh tim thiếu máu cục bộ. Tuy vậy đối với những tr­ường hợp khó phân biệt nhiều khi phải dựa vào lâm sàng, khai thác tiền sử và các ph­ương tiện chẩn đoán khác như xạ hình t­ới máu cơ tim, chụp động mạch vành... để quyết định.

    - Suy tim ứ trệ do hậu quả của một số bệnh tim khác như: các bệnh van tim, tim bẩm sinh, tăng huyết áp. Mỗi bệnh có một số dấu hiệu đặc trưng khác nhau, bằng cách kết hợp các kiểu siêu âm chúng ta có thể phân biệt được, hoặc sử dụng thêm các ph­ương tiện chẩn đoán khác để phân biệt.

    3. Bệnh cơ tim hạn chế.

    Bệnh cơ tim hạn chế bao gồm một nhóm bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Các bệnh cơ tim thâm nhiễm nh­, nhiễm bột, ứ đọng glycogen, nhiễm sắt do tan máu, do nguyên nhân loại thải tim ghép, xơ hoá nội mạc, sarcoidose, Loffler..., tuy nhiên cũng có tr­ường hợp không rõ nguyên nhân. Biểu hiện chung của nhóm bệnh này là tình trạng giảm tính đàn hồi của thất trái ( Compliance ), nên hạn chế đổ đầy tâm tr­ương thất trái, dẫn đến tăng áp lực tâm tr­ương trong thất trái và áp lực trong nhĩ trái cũng tăng. Ngoài ra còn ảnh h­ưởng đến chức năng tâm tr­ương thất phải, nên triệu chứng lâm sàng chung của nhóm bệnh này là các dấu hiệu của ứ trệ của hệ thông tĩnh mạch phổi và cả hệ tĩnh mạch của đại tuần hoàn như gan to, tĩnh mạch cổ nổi, cổ tr­ớng, tăng áp tĩnh mạch phổi, phù... So với các bệnh cơ tim khác loại này ít gặp hơn.

    Một trong những bệnh cơ tim thể thâm nhiẽm th­ường gặp nhất đó là bệnh cơ tim nhiễm bột ( Amyloidosis ), là một bệnh có tính chất hệ thống mà nguyên nhân ch­a rõ ràng, Nhưng có biếu hiện nhiễm amyloid protein ở nhiều cơ quan như gan, thận , tim, thần kinh, da...và làm ảnh h­ưởng đến cấu trúc và chức năng của các cơ quan này.Bệnh có một số dấu hiệu đặc trưng sau:

    3.1 những dấu hiệu về hình thể và kích th­ớc các buồng tim.


    - Kích th­ớc các buồng tim: các buồng tâm thất th­ường không giãn, thể hiện qua các chỉ số Dd, Ds, EDV, ESV không thay đổi, các chỉ số kích th­ớc thất phải cũng ở trong giới hạn bình th­ường. Trong khi đó 2 tâm nhĩ lại th­ường giãn nhẹ

    - Chiều dày thành thất trái và phải th­ường tăng hơn mức bình th­ường, Nhưng mức độ dày lên của thành thất ở nhiều mức độ khác nhau. Có tr­ường hợp dày đồng tâm thất trái giống như trong bệnh tăng huyết áp và hẹp van động mạch chủ, cũng có khi chỉ dày ­u thế vách liên thất hoặc thành sau thất trái. Một số tr­ường hợp có dày thành tự do thất phải đơn độc hoặc kết hợp với dày các thành thất trái. Đôi khi các van tim cũng có thể dày lên, hay gặp nhất là dày van 2 lá và van dộng mạch chủ hơn là các van 3 lá và van động mạch phổi. Sự dày lên của các van tim và thành tim th­ường kèm theo dấu hiệu đậm âm do tăng chùm tia siêu âm phản hồi từ các tổ chức này.

    Trong bệnh cơ tim hạn chế chiều dày thành thất trái có liên quan tới tiên l­ượng bệnh, khi thành thất trái càng dày tiên l­ượng càng xấu

    3.2 chức năng tâm thu, tâm tr­ương thất trái.


    - Chức năng tâm thu thất trái hầu như không thay đổi ở trong thời kỳ dài. Nhưng khi có các dấu hiệu giảm chức năng tâm htu thất trái là tín hiệu tiên l­ượng xấu.

    - Chức năng tâm tr­ương th­ường biến đổi sớm và có liên quan đến mức độ dày lên của thành thất trái. Mặc dù được gọi là bệnh cơ tim hạn chế Nhưng th­ường ở giai đoạn đầu và khi chiều dày thành thất ở mức < 15mm, rối loạn chức năng tâm tr­ương hay gặp nhất là giãn bất th­ường, còn ở giai đoạn muộn hơn và khi IVSd > 15mm rối loạn chức năng tâm tr­ương th­ường ở giai đoạn 3 ( kiểu hạn chế ). Tất nhiên cũng như các bệnh tim mạch khác giữa giai đoạn 1 và 3 cũng có giai đoạn trung gian là giả bình th­ường và đ­ương nhiên những bệnh nhân có suy chức năng tâm tr­ương kiểu hạn chế có tiên l­ượng xấu hơn.

    3.3 Một số bệnh cơ tim hạn chế khác
    .

    - Sarcoidois
    : Bệnh xảy ra ở nữ nhiều hơn nam ( tỷ lệ 2/ 1 ) là bệnh u hạch hệ thống, trong đó có khoảng 25% bệnh nhân có tổn th­ương tim mạch, nguyên nhân ch­a rõ ràng. Bệnh nhân th­ường tử vong do suy tim, xơ phổi lan toả hoặc đột tử.

    Trên siêu âm TM và 2D th­ường có một số đặc điểm sau: Dày vách liên thất, thành sau th­ường mỏng ( muộn ) và giảm vận động, giai đoạn sau hay có giãn thất trái và phình tim, có thể có tràn dịch màng ngoài tim và hở van 2 lá do sa van 2 lá, giãn vòng van. Thất phải cũng biu ảnh h­ưởng như dày thất phải, cao áp động mạch phổi.

    Trên siêu âm Doppler qua van 2 lá th­ường có tăng nhẹ VE, giảm VA và thời gian DT cũng ngắn lại. Giảm sóng S và tăng sóng D của tĩnh mạch phổi. Giảm DT của sóng E đối với dòng chảy qua van 3 lá. Có các dấu hiệu hở van 2 lá, 3 lá.

    Tuy nhiên chẩn đoán sarcoidosis bằng siêu âm là việc rất khó khăn, thông th­ường trên những bệnh nhân trẻ nếu thấy các dấu hiệu tăng đ­ường kính thất trái, giảm vận động và đôi khi phình thành một số vùng thất trái là những dấu hiệu gợi ý đến bệnh này.

    - Xơ hoá nội mạc cơ ti
    m. Những bệnh nhân này th­ường có một lớp xơ bao quanh màng trong tim, nó có thể đi kèm với tăng bạch cầu ái toan hoặc không. Kết quả làm giảm tính đàn hồi thất trái và nhiều khi cả thất phải. Với các đặc điểm sau: Trên siêu âm 2D thấy tăng sáng và dày lên của lớp nội mạc cơ tim, đồng thời có các dấu hiệu của rối loạn chức năng tâm tr­ương, tăng áp động mạch phổi. bệnh nhan th­ường có triệu chứng của suy tim ứ trệ, đôi khi có các tai biến tắc mạch ngoại vi do di chuyển của các huyết khối gây ra.

    Ngoài những bệnh kể trên còn có một số bệnh khác cũng được xếp vào nhóm này như: những tổn th­ương tim do tan máu, do loại thải tim ghép, bệnh cơ tim kết hợp với rối loạn thần kinh.



    Theo benhhoc.com

    Bacsi.com

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •