Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    Mr Phạm's Avatar
    Mr Phạm Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    Mar 2011
    Bài viết
    1,560

    Mặc định Phương pháp bổ tả p2

    3. Bổ tả theo phép “Thanh long bãi vĩ”

    a) Thủ pháp phối hợp: Đây là phương pháp phối hợp phép “hành khí”, “bổ khí” và “cửu số”…

    b) Chủ trị: Trị kinh khí bị ủng tắc, huyết trệ…

    c) Tác dụng: Hành khí, thông quan tiết, vận hành khí huyết

    d) Thao tác châm trị:

    Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “sau khi châm vào đắc khí, châm xiên kim đến nơi bệnh, không tiến không thoái không xoay, vê kim, cầm chuôi kim lắc qua lại, như bơi chèo 9 lần hoặc 3 lần 9 thành 27 lần”.

    Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Thủ pháp Thương (thanh) long bãi vĩ thuộc châm bổi… nắm lấy kim nhe chèo mái chèo sang 2 bên tả hữu…”

    Sách Thái ất Thần châm cứu trình bày: “Khi châm và từ Thiên bộ đến Nhân bộ, nếu đắc khí thì đầu kim có cảm giác trầm khẩn, rút kim về vị trí Thiên bộ. Nếu như có bộ vị cạn và đắc khí thì không cần rút kim thêm lần nữa. Ta dùng tay đè nghiêng kim, mũi kim hướng về nơi có bệnh, không tiến không thoái, không vê tay, nắm chuôi kim lắc như mái chèo rất chậm sang 2 phái tả hữu 9 lần, có thể lên đến 3 lần 9 là 27 lần. Nếu vẫn chưa đạt được kết quả, có thể lên đến 9 lần 9 là 81 lần. Phép châm này có thể bổ cho chứng khí hư trệ.




    4. Bổ tả theo phép “Bạch hổ dao đầu”

    a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “hô hấp”, “đề sáp”, “xoay”, “vê”, “hành khí”, “lắc kim”, “lục số”…

    b) Chủ trị: trị kinh khí bị ủng tắc, huyết trệ…

    c) Tác dụng: hành huyết, thông quan tiết, vận hành khí huyết

    d) Thao tác châm trị:

    Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “lúc châm vào thì xoay kim sang trái, cứ 1 lần hô “thở ra”: thì lắc kim 1 lần, lúc rút kim lên thì xoay sang phải, cứ 1 “hấp-hít vào” thì lắc kim 1 lần. Thao tác 6 lần hoặc 3 lần 6 là 18 lần”.

    Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Đây là phương pháp phối hợp giữa thao tác “xoay vê kim” và “đề sáp”. Khi châm kim vào huyệt đạt đến độ sâu thích hợp phải xoay kim sang trái, sau xoay kim sang phải, không dùng tay lắc chuông sang tả hữu.

    Thao tác này có khác với “Thanh long bãi vĩ”, ở Thanh long thì kim phải nằm ở độ xiên, ở Bạch hổ thì châm thẳng vào, tốc độ lắc và vê tương đối nhanh hơn. Trong khi thực hiện thao tác nếu muốn khí lên trên thì ta dùng ngón tay ấn vào bên dưới đường kinh ngang với huyệt, nếu muốn khí xuống dưới thì ta dùng ngón tay ấn vào bên trên đường kinh vận hành. Nhân vì “hổ” thuộc Âm, cho nên phép này có công hiệu hành huyết, thiên về châm tả.




    5. Bổ tả theo phép “Xích phụng nghênh nguyên”

    a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “hô hấp”, “đề sáp” và “xoay kim”…

    b) Chủ trị: trị kinh khí bị ủng tắc, thông lạc…

    c) Tác dụng: hành lạc mạnh, thông quan tiết, vận hành khí huyết

    d) Thao tác châm trị: chim phương đỏ đón nguồn

    Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm đến Địa bộ, sau đó rút kim lên đến Thiên bộ, đợi đắc khí xong lại châm xuống Nhân bộ, xoay kim lên xuống từ trên xuống dưới từ tả sang hữu với tốc độ nhanh…Khi bệnh ở phần trên thì đợi bệnh nhân hít vào thì xoay sang phải và rút kim lên, khi bệnh ở phần dưới thì đợi bệnh nhân thở ra thì xoay kim sang trái và châm kim và.”

    6. Bổ tả theo phép “Thương quy tám huyệt”

    a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “nhanh chậm”, “hướng kim hành khí”…

    b) Chủ trị: thông kinh lạc, huyết trệ…

    c) Tác dụng: lưu hành kinh mạch, thông quan tiết, …

    d) Thao tác châm trị: rùa xanh dò huyệt:

    Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “châm kim xiên tả hữu trên dưới, từ cạn đến sâu, đều theo phép Tam tiến nhất thoái”.

    Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “Thao tác này nhằm đạt đến mục đích là Hành khí”.

    Khi châm, trước hết châm từ cạn xuống sâu (Thượng xuống hạ) từ trái sang phải, chia làm 3 bộ xuống chậm lên mau. Mỗi lần thay đổi nên kéo kim lên đến dưới da rồi mới đổi hướng. Thao tác này giống như con rùa xuống hang đất vì thế mới có tên là “Rùa xanh dò huyệt”. Thủ pháp này có thể có tác dụng làm bổ xung nguyên khí của kinh mạch và cũng vì mũi kim xoay nhiều hướng cho nên nó cũng có tác dụng làm cho khí của kinh mạch được sơ thông”.




    7. Bổ tả theo phép “Long hổ giao chiến”

    a) Thủ pháp phối hợp: Thủ pháp này gồm có các phép “đơn” như “xoay kim, cửu lục”…

    b) Chủ trị: Trị các chứng đau nhức

    c) Tác dụng: Làm sơ thông kinh khí, chỉ thống

    d) Thao tác châm trị: Rồng và cọp giao chiến:

    Sách Châm cứu học Thượng hải trình bày: “Xoay kim sang trái 9 lần, xoay kim sang phải 6 lần, cứ thế mà lập lại nhiều lần. Nếu cần có thể áp dụng phép châm 3 lớp Thiên, Địa, Nhân”.

    Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “Phàm khi dụng châm, trước hết thi hành phép “tả long” xoay tả theo phép thanh long “tức là xoay về tả đúng 9 lần theo như Dương số (lẻ). Sau đó theo phép ”hữu hổ”: xoay hữu theo phép “bạch hổ”, tức là xoay về hữu 6 lần theo như số âm (chẵn). Đó là phép châm “cuộc chiến giữ viên long hậu hổ”, giống như phép âm trung ấn Dương, Dương trong ẩn âm”…

    Sách Thái ất thần châm cứu trình bày: “Sau khi tiến châm đắc khí, trước hết xoay kim sang trái 9 lần (bổ) sau đó xoay kim sang phải 6 lần (tả) cứ thế mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Nếu như bệnh tình khá nặng ta có thể áp dụng phép châm theo thiên, địa, nhân để châm…Thủ pháp này áp dụng cả bổ lẫn tả có thể điều hoà khí doanh vệ làm sơ thông kinh khí, làm đau nhức kịch liệt’’.




    8. Bổ tả theo phép “Long hổ thăng giáng”

    a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm phối hợp giữa “từ tật, để sáp”, “cửu lục”, “xoay tròn”, “búng kim”, “đề ép”

    b) Chủ trị: trị chứng âm dương bị thất điệu, doanh vệ bất hoà

    c) Tác dụng: sơ thông kinh khí, điều hoà âm dương

    d) Thao tác châm trị: rồng và cọp thăng giáng.

    Sách Châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm kim vào Thiên bộ, xoay kim: quay một vòng tròn về hướng tả xong chầm chậm xuống nhân bộ rồi rút lên đến Thiên bộ lại xoay một vòng tròn về hướng hữu, làm như thế 9 lần. Sau đó ta châm kim xuống đến địa bộ, ta lại xoay kim sang hữu một vòng tròn sau đó rút kim lên nhanh và đẩy kim xuống chậm, lại xoay kim sang trái một vòng tròn làm như thế đúng 6 lần. Sau cùng dung phép búng vào kim, ta dùng tay đè vào phía trước để khí đi về phía sau, dùng tay đè vào phía sau để khí đi về phía trước”.





    9. Bổ tả theo phép “Tý ngọ đảo cứu”


    a) Thủ pháp phối hợp: Đây là phương pháp châm phối hợp giữa “xoay vê kim”, “đề sáp”, “cửu lục”, …

    b) Chủ trị: Chứng thủy cổ trướng

    c) Tác dụng: điều hoà âm dương, sơ thông kinh khí

    d) Thao tác châm trị: giã cối theo hướng tý ngọ.




    Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Khi châm trước hết châm xuống nhanh, rút kim châm, xoay trái 9 lần, sau đó rút lên nhanh, châm xuống chậm, xoay phải 6 lần, lặp lại nhiều lần”.

    Sách châm cứu Đại thành trình bày: “phép châm Tý Ngọ đảo hữu” trị chứng thủy cổ, cách khí. Sách này đưa ra bài thơ:

    Tý ngọ đảo cứu

    Thương hạ châm hành

    Cửu thập lục xuất

    Tả hữu bất đình

    Định nghĩa: Phép châm Tý Ngọ đảo cứu (giã cối theo hướng Tý Ngọ) tức là châm rồi xuống dưới, châm vào xoay kim 9 lần, rút ra xoay kim 6 lần, xoay trái xoay phải không ngừng.

    Sách Thái Ất châm cứu trình bày “Phàm sau khi châm đã đắc khí, trước hết xoay kim hướng tả 9 lần ngưng lại, một chút, xong rút kim lên để xoay qua hữu 6 lần, lặp lại nhiều lần như thế, khi đạt đến 1 độ số thích đáng thì dưới kim thấy lơi lỏng, nên rút kim ra. Thủ pháp này có thể dẫn đạo khí âm dương thích ứng với thủy cổ cách khí, thông lợi kinh khí.”



    (Xem tiếp phần cuối)


    Theo CIMSI
    Bacsi.com
    Lần sửa cuối bởi Mr Phạm, ngày 19-04-2011 lúc 08:12 PM.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •