Trong quá trình thực hiện công tác trị liệu bằng châm cứu, vấn đề bổ tả đóng vai trò quan trọng. Dĩ nhiên, tùy thuộc vào tình hình bệnh tật cụ thể mà ta có những phép bổ tả khác nhau. Để tiện việc thực hiện tốt việc bổ tả, xin tạm đưa ra một số phương pháp bổ tả, giúp phần nào cho người làm châm cứu trong lúc thực hành. Các phương pháp này được rút ra một cách tóm tắt trong các sách xưa nay.

A - BỔ TẢ ĐƠN


1. Bổ tả theo “Từ tật”

“Từ” có nghĩa là châm kim vào chậm, “tật” có nghĩa là khi châm kim vào phải nhanh, hoặc ngược lại, khi rút kim ra phải chậm, khi rút kim ra phải nhanh, tất cả tùy thuộc vào luận bệnh. Việc bỏ tả theo phương pháp này có những ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào “Tiểu châm giải” thì:

Bổ: “Từ nội: châm vào chậm” “tật xuất”: rút kim ra nhanh”

Tả: “Tật nội: châm vào nhanh” “từ xuất: rút kim ra chậm”.

Dù sao, việc châm vào rút ra nhanh hay chậm sẽ được phát huy rõ hơn trong các phương pháp bổ tả theo “phối hợp”.


2. Bổ tả theo đề sáp: châm vào rút ra:

Theo kinh điển thì phép Bổ tả được chia làm

Bổ: “Khẩn án” tức là khi châm vào như có sức nặng đè xuống. “Mạn đề” tức là khi rút kim ra phải nhẹ nhàng.

Tả: “Mạn án” tức là khi châm vào phải thật nhẹ nhàng. “Khấn đề” có nghĩa là rút kim ra như rút cái gì thật nặng nề.

Tuy nhiên, phải ứng dụng vào trường hợp châm “phối hợp” thì thuật mới bộc lộ rõ ý nghĩa của nó.

3. Bổ tả theo pháp vê (xoay) kim:

Đây là 1 phương pháp bổ tả thường dùng và được ứng dụng đa dạng, có ảnh hưởng bởi kinh dịch.

Thông thường thì:

Bổ: xoay kim về phía trái, tức là ngón tay cái hướng về phía trước, ngón tay trỏ hướng về phía sau.

Tả: xoay kim về phía hữu, tức là ngón tay cái lui về phía sau, ngón tay trỏ hướng về phía trước.

Phép bổ tả còn được qui định với số lần xoay theo 6 và 9 của Âm Dương…

4. Bổ tả theo “hướng” của Kim châm:

Đây là phép châm theo thủ thuật “nghênh tùy”.

Bổ: đầu kim châm nằm thuận theo hướng đi của kinh

Tả: đầu kim nằm nghịch với hướng đi của kinh.

5. Bổ tả theo hô hấp

Đây là 1 phương pháp bổ tả rất lý thú, quan hệ rất nhiều đến “khí hoá” Đông phương.

Sách châm cứu đại thành (trang 5/qu VI) viết: “Cái lý của hô hấp là 1 phép điều hoà Âm dương”. Cho nên Nội kinh có nói: Hô là nhân theo Dương để xuất, hấp là tùy theo Âm để nhập.

Tuy việc hô hấp có phân Âm Dương, nhưng sự thực là do có 1 khí mà thôi. Khí này đóng vai trò cái “Thể”. Khí vào bên trong, trải qua ngũ tạng, ra ngoài đi theo kinh Tam tiêu chủ lưu và phân bố ra toàn thân, tuần hoàn theo kinh lạc, “lưu chú vào các huyệt … tuy nhiên cái” dung của nó lại không giống nhau.

Cho nên mới nói rằng sự xuất nhập của ngũ tạng nhằm ứng với từ thời, sự thăng giáng của Tam tiêu thành khí vệ (doanh vệ), sự tuần hoàn của kinh mạch hợp với Thiên độ. Riêng sự hô hấp xuất nhập chính là cái “then chốt” của tạo hoá là chiếc chìa khoá của thân thể con người. Người làm châm cứu phải biết được điều này để ứng dụng.

Các Dương khí đều ở tại chỗ can thuộc kinh lạc các Âm khí đều ở tại chỗ sâu tại tạng phủ, cho nên việc bổ tả phải dựa theo hô và hấp để xuất (rút ra) hoặc nội (châm vào). Nếu muốn châm:

Bổ: đợi lúc hô tức là khí xuất ra ngoài thì châm vào, đợi lúc hấp tứ là khí nhập vào thì rút kim ra.

Tả: đợi lúc hấp tức là khí nhập vào thì châm vào, đợi lúc hô, tức là khí xuất ra thì rút kim ra.

Khí “hô” thì hơi thở không quá “Tam khẩu: 3 hơi” đó là vì bên ngoài khí đi theo tam tiêu (Dương), khi “hấp” thì hơi thở không quá “Ngũ khẩu: 5 hơi”, đó là vì bên trong khí đón theo khí của ngũ tạng (Âm).

“Tiên hô” và “Hậu hấp” thuộc “Âm trong Dương”. “Tiên hấp” và “Hậu hô” thuộc “Dương trong Âm”. Chúng ta phải tùy theo bệnh khí, âm Dương, hàn nhiệt để ứng dụng. Đây là 1 phương pháp rất sống động mà chúng ta không thể hành động sai lầm được.

Tóm lại:

Các kinh thuộc Tam âm: tiên hấp và hậu hô.

Các kinh thuộc Tam dương: tiên hô và hậu hấp.

6. Bổ tả theo “Khai hợp: Hở đóng”

Bổ: rút kim ra nhanh và rút 1 lần, dùng tay bít nhanh miệng của huyệt

Tả: rút kim ra chậm, đồng thời lắc kim để cho miệng kim rộng ra, không bịt miệng lỗ kim lại.

7. Bổ tả theo phép “mẹ con”.

Theo can: dựa vào đường kinh khai tương ứng với Thiên can, dùng phép bổ mẹ tả con.

Theo chi: dựa vào đường kinh khai tương ứng với Địa chi, dùng phép bổ mẹ tả con…

Cả hai phép trên đều được trình bày đầy đủ trong quyền: “Tý Ngọ lưu chú” của Huỳnh Minh Đức.

B - BỔ TẢ THEO PHƯƠNG PHÁP “PHỐI HỢP”

Thực sự, phương pháp này được vận dụng theo lối phối hợp các phép “đơn mà chúng ta đã nói trên.”

1. Bổ tả theo phép “Thiêu sơn hoả”.

a) Thủ pháp phối hợp: phương pháp Bổ tả này phối hợp với 3 phép “đơn”. Đó là: “Từ tật” chậm và nhanh. “Đẻ sáp:” rút lên và châm xuống nhiều lần 9 và 6…

b) Chủ trị: trị những chứng hàn.

c) Tác dụng: làm ấm dương khí.

d) Thao tác châm trị:

Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Tam tiến nhất thoái. Khấn án (chama xuống nặng), mạn đề (rút lên nhẹ) thực hiện việc lên xuống này đúng 9 lần. Khi người bệnh thở ra tì chân kim vào, phải bít miệng kim lại… Thao tác này có thể làm cho “Dương khí” đi đi xuống sâu vào trong…”

Sách châm cứu Đại thành trình bày: “Phép Thiêu sơn hoả” có thể trừ được chứng hàn, và Châm gây được nhiệt trong người. Bảo người bệnh hít vào bằng mũi 1 lần, và thở ra bằng miệng 5 lần.

Sách Thái ất thần châm cứu trình bày: “Trước hết nên chọn huyệt thích hợp, tốt nhất là những huyệt nằm những nơi cơ nhục đầy. Đầu, ngực và lưng, hoặc ở những nơi đầu của ngón tay chân, các huyệt này đều không thích hợp châm theo pháp này.”

Ta chia việc châm làm nhiều lớp. Ví dụ huyệt khoảng 1 thốn rưỡi, trước hết ta châm vào 5 phân gọi là Thiên bộ, xong ta lại châm sâu vào sâu 1 thốn 5 phân gọi là Địa bộ.

Sau khi kim châm vào lớp da, từ lớp da này ta châm sau vào 5 phân (Thiên bộ). Nơi đây đã ứng dụng phép bổ theo “Đề sáp: lên xuống”, tức là châm xuống nặng và rút lên nhẹ 5 lần. Khi châm vào Nhân bộ ở độ sâu 1 thốn, cũng lên xuống kim 9 lần như trên sau cùng, châm sâu xuống đến Địa bộ khoảng 1 thốn 5 phân, và cũng lên xuống kim 9 lần như vậy.

Nếu cần, ta lại kéo kim lên đến Thiên bộ trở lại như lần đầu để tiếp tục thao tác như cũ… Ta lập đi lập lại như vậy có thể đến 3 lần cho đến khi người bệnh cảm thấy ở đầu kim cảm giác nóng mới thôi. Khi rút kim ra, ta nên mau mau bịt kín vết châm lại.

Thủ pháp này có thể bổ trợ khí thuần dương, nhằm trị được các chứng hàn, tý, tứ chi, quyết lãnh, mạch phục tàng, đó là những chứng hư hàn và dương khí bị hư suy.




2. Bổ tả theo phép “Thấu Thiên lương”.

a) Thủ pháp phối hợp: thủ pháp này gồm các phép “đơn” “từ tật”, “đề sáp”, “cửu lục” và “khai hợp” tất cả hợp lại mà thành.

b) Chủ trị: trị những chứng nhiệt

c) Tác dụng: tả hoá khí

d) Thao tác châm trị:


Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Nhất tiến cam thoái, Khẩn đề (rút kim ra thật nhanh) mạn án (châm xuống thật chậm). Thực hiện việc lên xuống này đúng 6 lần. Khi người bệnh hít vào thì châm kim vào, khi người bệnh thở ra, thì rút kim ra. Khi rút kim ra, không bịt vết châm của kim… Thao tác này có thể làm cho “âm khí đi lên, ra ngoài”…”

Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Phép” Thấu Thiên lương” có thể trừ được chứng nhiệt. Châm vào có thể gây được hàn trong người. Bảo người bệnh hít vào bằng miệng 1 lần, thở ra bằng mũi 5 lần.

Sách Thái ất Thần châm cứu trình bày: “Trước hết châm kim sâu vào đến Địa bộ, xong rồi làm 3 giai đoạn để rút kim ra từ Địa, đến Nhân rồi đến Thiên bộ. Ví dụ: địa bộ sâu 1 thốn 5 phân, châm xong rồi dùng phép: “Tả” châm vào nhẹ, rút ra nhanh, lên xuống đúng 6 lần, xong rồi rút lên đến Nhân bộ (sâu 1 thốn). Lên xuống 6 lần, rồi lại đến Thiên bộ… Thủ pháp này có thể lập lại đến 3 lần, chừng nào người bệnh có cảm giác lạnh dưới đầu kim thì thôi. Khi rút kim, nên lắc kim cho vết kim to ra. Thủ pháp này có thể trị liệu 1 số chứng bệnh thuộc thực nhiệt.





(Xem tiếp phần 2)

Theo CIMSI
Bacsi.com