Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định Nhĩ châm : Mối quan hệ giữa tai và các tạng phủ toàn thân

    Sách Linh khu - và khí tạng phủ bệnh hình "có ghi 12 kinh mạch 365 lạc, huyết khí của chúng đều lên mặt và đi đến các khiếu . . . các liệt khí của chúng đều đến tai và để nghe ". Sách "Linh khu kinh mạch" có ghi cụ thể sự phân bố của 12 kinh mạch: phân chi của thái dương lúc đến góc trên của tai, dương mình tai đi đến tai trước; thiếu dương túc đi xuống tai sau, phân bố đến tai hông, xuất hiện ra ở tai trước, thái dương thủ đi vào tai trong; thiếu dương thủ liên quan đến tai sau, xuất hiện ở góc liên của tai, phân nhánh vào tai trong. Như vậy tam dương kinh của tay và chân có liên quan đến các vùng bộ phận tai, âm kinh thì thông qua các chi khác (kinh biệt) hợp lại ở dương kinh và tương ứng với các bộ phận của tai. Ví như các chi khác của quyết âm thủ xuất hiện ở tai sau hợp lại ở thiếu dương thủ. Trong sách "Tố vấn mục thích luận" còn ghi "Thiếu âm, thái âm ở tay chân, 5 lạc dương minh đều gặp nhau ở tai trong về kỳ kinh có âm duy, mạch nhập vào tai sau, dương duy mạch theo đâu vào tai Bởi vậy sách "Canh khu khẩu vấn" có ghi "tai là nơi tụ họp của các động mạch" chỉ rõ các bộ phận của tai có liên hệ mật thiết với các kinh lạc toàn thân.

    Tai có liên quan đến tạng phủ: "Kinh khu - mạch đồ" có ghi "Thận khí thông với tai”. Sách "Tố vấn - Kim quy châm ngôn luận" có ghi "(Tâm)" khai khiếu và nhĩ "Trong" Tố vấn - Ngọc cơ chân trung luận" chỉ rõ: (Tỳ) bất cập, tắc bệnh nhân cửu khứu (chỉ ngũ quản tuất khứu gia tiền hậu âm) bất thông trong "Thông bình hư thực luận" còn ghi (đầu đau tai ù, chín khứu bất lợi, Tràng vi chi sở sinh dã". Sách "Tinh khu - Hải luận" có ghi "Tùy hải bất túc, tác não chuyển nhỡ minh". Trong "Tạp bệnh nguyên lưu đời Thanh còn ghi rằng "phế chủ khí, nhất thân chi chi quan vu nhỡ" Điều đó nói rằng các bộ phận của tai có liên quan mật thiết tới các tạng phủ.

    Từ những lời bàn trong sách xưa mà lý giải có thể tai cùng với toàn thân tồn tại nhiều mối quan hệ mật thiết, cấu thành chỉnh thể thống nhất, bởi vậy một số điểm nhất định ở vành tai đã phản ứng bệnh toàn thân, lại có thể lấy làm điểm kích thích, để chữa các bệnh của toàn thân.

    ( thoe cisim )
    :47:

  2. #2
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Thumbs down Nguyên tác chọn huyệt và phối hợp huyệt

    Có thể căn cứ vào những nguyên tắc dưới đây khi chọn điểm mẫn cảm có dương tính, nếu không thể tìm được điểm mẫn cảm cũng có thể trực tiếp căn cứ vào các nguyên tắc dưới đây để chọn huyệt ở tai.

    1. Căn cứ vào bộ vị tương ứng để chọn huyệt : Đau dạ dày lấy điểm dạ dày, đau khớp gối lấy điểm khớp gối.

    2. Căn cứ vào tạng tượng, nguyên lý học thuyết kinh lạc để chọn huyệt : như gan khai khiến ở mắt, bệnh mắt có thể chọn dùng điểm gan, phế chủ bì mao, bệnh ngoài da thường dùng điểm phế.

    3. Căn cứ vào sinh lý, bệnh lý, tri thức y học hiện đại mà chọn huyệt : kinh nguyệt không đều thì lấy điểm nội tiết, bệnh lở loét thì lấy điểm giao cảm và não...

    4. Căn cứ vào kinh nghiệm lâm sàng mà chọn huyệt : như viêm da, thần kinh thì lấy điểm tuyến mà sốt thì chích máu ở tai...
    :47:

  3. #3
    kienne's Avatar
    kienne Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 5
    Ngày tham gia
    May 2010
    Bài viết
    3,498

    Mặc định Phương pháp thao tác

    Vận dụng phương pháp chữa bệnh châm tai là do châm cứu đơn thuần phát triển mà thành các loại phương pháp mai hoa châm, ôn châm, thủy châm, châm laser cứu, chích huyệt. Điểm này được phân biệt trình bày dưới đây:

    1. Phương pháp châm chích.

    Sau khi chọn đúng huyệt thì dùng cán kim hay dùng que thăm dò dùng sức ấn xuống khiến cho để lại dấu vết ấn, sau đó dùng cồn 75 độ sát trùng khô thì bắt đâu châm.

    Chọn dùng kim số 28 dài 0,5 thốn (số ít cũng có thể lấy kim số 26 dài 0,5 thốn chọn đúng điểm mẫn cảm ấn nhanh vào sau 1 phân đến gần màng xương nhưng chỉ lấy mức không xuyên qua lớp màng da cạnh đối làm độ giới hạn, có thể căn cứ vào bênh tình mà sau khi châm vài phút có thể lưu kim 30-60 phút.

    Một số bệnh viêm cấp tính, đau nặng bệnh lâu có thể lưu kim 1-2 tiếng hoặc càng nhiều thời gian càng tốt, trong quá trình lưu kim cứ 5 -10 phút kích thích một lần.

    Một ngày hoặc cách một ngày điều trị 1 lần phần lớn những bệnh mãn tính thì 10-20 lần làm một quá trình điều trị, thời gian quá trình điều trị cách nhau 5-15 ngày.

    Khi châm phần lớn phản ứng tương đối đau, có khi xuất hiện cảm giác đau, trướng, nặng, nóng . . .

    Chọn huyệt nên ít nhưng phải chính xác, phần lớn là dùng trúng bên cạnh, số ít có thể lấy cạnh đối hoặc hai bên cạnh khi nhất thiết có thể 1 huyệt nhiều kim châm (vị trí 1 huyệt châm vài chiếc kim) hoặc I kim châm nhiều huyệt (từ 2 huyệt trở lên)

    2. Phương pháp châm mai hoa:

    Chọn dùng hình thức châm kim vào trong da, châm vào điểm cảm ứng ở huyệt tai, dùng băng dính dán cố định lại, có thể lưu kim từ 5-10 ngày, thời gian châm nên phụ thuộc vào người bệnh mỗi ngày châm mấy lần và có thể kích thích thêm. Thời gian châm vào mùa hè đừng nên quá kéo dài nên đề phòng nhiễm trùng. Thường dùng với những bệnh nhân mãn tính và bệnh tái phát. Nhưng hiệu quả không mãn ý bằng phương pháp châm bình thường.

    3. Phép ôn châm:

    Dựa vào phép châm thông thường mà châm vào điểm phản ứng, dùng thủ pháp để đạt tới lượng kích thích nhất định, đốt từ 1-3 điếu ngải ở mũi kim hoặc dùng điếu ngải đốt nóng điểm kích thích, ngải hơ ở cán kim từ 3-5 phút, thường dùng cho các bệnh nhân mãn tính, bệnh phong thấp bệnh có tính hàn.

    4. Phép điện châm:

    Lấy 2 cực của máy điện châm mắc liên tiếp lên 2 cán kim châm vào huyệt ở tai, dùng điện kích thích từ 15-30 phút, phần lớn là phải khiến cho bệnh nhân cảm thấy đầu nóng nhưng nên ở mức độ có thể chịu đựng nổi, thích ứng với các bệnh điều trị bằng các phép châm ở tai.

    5. Phép thủy châm:

    Nên dùng các điểm phản ứng ở huyệt tai, căn cứ vào quy định phép chữa thủy châm mà chọn dùng dung dịch thuốc thích ứng như: Mỗi lần mỗi huyệt tiêm từ 0,1 đến 0,8ml, mỗi ngày hoặc cách một ngày tiêm 1 lần. Đối với phế kết hạt, hen suyễn nên châm tê ở huyệt trên tai.

    6. Phép cứu:

    Căn cứ vào quy định thao tác phép cứu, chọn dùng điểm phản ứng ở huyệt trên tai phải thích ứng. Mỗi huyệt một điếu để nóng lỗ.

    7. Phép trích huyết:

    Dựa vào quy định thao tác phép cắt tu trên điểm phản ứng ở huyệt trên tai dùng mũi nhọn của dao phẫu thuật rạch trên da một đường dài từ 1-2mn, sâu đến lớp màng mềm của da, trích ra một ít máu.

    CHÚ Ý


    1. Trong thời gian lưu kim

    Chỗ châm có thể ngứa đau hoặc trướng, rãnh tai nóng, chảy máu, đó là phản ứng thông thường, hậu quả điều trị thường là tốt, trái lại trong khi châm hoặc trong quá trình lưu kim nếu các huyệt châm trên người bệnh không đau, sốt, thường cũng không nóng vành tai, chảy máu thì thường hiệu quả không tốt.

    2. Trong quá trình lưu kim

    Nếu như người bệnh tái phát bệnh cũ một vùng nào đó cảm thấy đau, sốt, trướng không thích ứng thì châm xuống dưới hoặc rút ra phản ứng thường có thể tiêu mất .

    3. Bất cứ sử dụng phương pháp nào cũng phải chú ý sát trùng cẩn thận, nếu như châm không sát trùng cẩn thận thì da ở tai nhiễm trùng, khi nghiêm trọng có thể đau đến vùng xương, khó mà khỏi được sau đề phòng rất kém. Bởi vậy phải đề phòng nghiêm khắc.

    Nếu phát sinh phản ứng đâu tiên là phải chữa viêm không cho nó phát triển tiếp.

    4. Đề phòng và kịp thời xử lý vùng châm: có thể tham khảo cách chữa châm chích.
    :47:

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •