Kết quả 1 đến 3 của 3

Chủ đề: Sâm cau

  1. #1
    XiTin Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    473

    Question Sâm cau

    Cho xin hỏi cây sâm cau ,sao lai có bài cho là sâm đại hành,lại có bài gọi là ngai cau ,tiên mao.Vậy tên chính thức là gì ,thực tác dụng của nó và cách ngâm rượu Cảm ơn

  2. #2
    TinY Đang Ngoại tuyến Administrator
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    2,707

    Mặc định

    Sâm cau (Curculigo orchicides Gaertr) thuộc họ sâm cau (HYPOXIDACEAE), tên khác là Ngải cau, Tiên mao, Cồ nốc lan...

    Là một cây thảo, sống lâu năm, cao 20-30cm, có khi hơn. Thân rễ mập, hình trụ dài, mọc thẳng, thót lại ở hai đầu, mang nhiều rễ phụ có dạng giống thân rễ. Lá mọc tụ họp thành túm từ thân rễ, xếp nếp và có gân như lá cau, hình mũi mác hẹp, dài 20-30cm, rộng 2,5-3cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng màu, gân song song, bẹ lá to và dài; cuống lá dài khoảng 10cm.

    Cụm hoa mọc trên một cán ngắn ở kẽ lá, mang 3-5 hoa nhỏ, màu vàng; lá bắc hình trái xoan; đài 3 răng có lông, tràng 3 cánh nhẵn, nhị 6 xếp thành hai dãy, chỉ nhị ngắn, bầu hình thoi, có lông rậm.
    Quả nang, thuôn, dài 1,2 - 1,5cm, hạt 1 - 4, phình ở đầu.
    Mùa hoa quả: tháng 5 - 7.

    Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu của Sâm cau là thân rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về, rửa sạch, cạo bỏ vỏ ngoài, để nguyên hoặc ngâm nước vo gạo một đêm, rồi phơi hoặc sấy khô.

    Dược liệu chứa tinh bột, tanin, sitosterol, stigmasterol và các hợp chất flavonoid, các chất thuộc nhóm cycloartan, triterpenic, cycloartan glycosid là curculigo saponin.

    Nhân dân ở vùng có cây mọc thường đào rễ sâm cau về, cắt bỏ gốc thân lá, rửa sạch, dùng tươi, thái nhỏ hầm với thịt gà ăn để bồi dưỡng sức khỏe, nhất là đối với người cao tuổi và phụ nữ mới sinh. Dùng riêng để chữa hen, tiêu chảy.

    Rễ Sâm cau phơi khô, thái nhỏ, sao vàng, lấy 12g sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần trong ngày.
    Dùng phối hợp chữa tê thấp, đau mình mẩy: rễ Sâm cau, Hà thủ ô, Hy thiêm mỗi thứ 20g, thái nhỏ, ngâm với 500ml rượu trắng, trong 7-10 ngày, càng lâu càng tốt; ngày uống hai lần, mỗi lần 30ml.

    Chữa sốt xuất huyết: Sâm cau 20g (sao đen), Cỏ nhọ nồi 12g, Trắc bách diệp 10g (sao đen), quả Dành dành 8g (sao đen), sắc uống làm 2-3 lần trong ngày.

    Để chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, lấy Sâm cau 10g, Sâm bố chính, Trâu cổ, Kỷ tử, Ngưu tất, Tục đoạn, Thạch hộc, Hoài sơn, Cáp giới mỗi vị 12g; Cam thảo Nam, Ngũ gia bì mỗi thứ 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống. Hoặc Sâm cau 20g, Ba kích, Phá cố chỉ, Hồ đào nhục, Thục địa mỗi vị 16g, Hồi hương 4g, sắc uống ngày một thang.

    Trong dân gian, khi ngâm rượu chim Bìm bịp với Tắc kè, người ta thường cho thêm cả Sâm cau để tăng thêm hiệu lực tác dụng.

    Bài thuốc “Nhị tiên thang” gồm Sâm cau, Ba kích, Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Hoàng bá, Đương quy mỗi thứ 12g được dùng dưới dạng thuốc sắc đã chữa bệnh cao huyết áp, nhất là đối với phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, đạt kết quả hơn 70%.

    Ghi chú: Dùng sâm cau liều cao kéo dài sẽ gây cường dương mạnh, làm tinh hao kiệt lực. Người hư yếu, thể trạng kém không nên dùng.

    DS. Đỗ Huy Bích

  3. #3
    Loire Đang Ngoại tuyến Banned
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    2,787

    Post

    Ừm, có một điều mà mình thắc mắc khi tìm hiểu về Sâm cau đó là có nhiều tài liệu cho rằng Sâm cau và Sâm đại hành là một. Có tài liệu lại nói khác. Miêu tả và công dụng đều khác nhau. Vậy sâm cau và Sâm đại hành là một hay hai vị thuốc?

    Sâm đại hàn
    Tên khác:
    Tỏi lào, tỏi đỏ, kiệu đỏ.

    Tên khoa học:
    Eleutherine subaphylla Gagnep, họ Lay dơn (Iridaceae).
    Cây được trồng làm thuốc ở nhiều địa phương nước ta.

    Bộ phận dùng:
    Thân hành (Bulbus Eleutherinis subaphyllae).

    Thành phần hoá học chính:
    Các dẫn chất naphtoquinon: eleutherin, isoeleutherin, eleutherol.

    Công dụng:
    Chữa thiếu máu, mệt mỏi, băng huyết, ho ra máu, ho gà, viêm họng, mụn nhọt, lở ngứa.

    Cách dùng, liều lượng:
    Ngày uống 4-12g, dạng thuốc sắc, rượu thuốc

    Sâm cau:

    Tên khác
    Sâm cau, Ngải cau, Cồ nốc lan - Curculigo orchioides Gaertn, thuộc họ Tỏi voi lùn - Hypoxidaceae.

    Mô tả: Cây thảo sống lâu năm cao 30cm hoặc cao hơn. Lá có 3-6 lá, hình mũi mác xếp nếp tựa như lá Cau, phiến thon hẹp, dài đến 40cm, rộng 2-3,5cm, cuống dài 10cm. Thân rễ hình trụ cao, dạng củ to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà. Hoa màu vàng xếp 3-5 cái thành cụm, trên một trục ngắn nằm trong những lá bắc lợp lên nhau. Quả nang thuôn dài 1,5cm, chứa 1-4 hạt.
    Hoa mùa hè thu.

    Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Curculiginis, thường gọi là Tiên mao

    Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ - Malaixia, có ở Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia, Philippin và Đông dương. Cây mọc hoang trên các đồi cỏ ven rừng núi nhiều nơi ở miền Bắc. Ở vùng đồi núi Lang Bian cũng có gặp. Đào củ về, rửa sạch, ngâm nước vo gạo để khử độc rồi phơi khô.

    Thành phần hoá học: Trong thân rễ có 5,7-dimethoxymricetin-3-0-a-L- xylopyranosyl-4-0-b-D-glycopyranoside.

    Tính vị, tác dụng: Vị cay, tính ấm, hơi có độc; có tác dụng bổ thận tráng dương, ôn trung táo thấp, tán ứ trừ tê, tráng gân cốt.

    Công dụng: Thường được dùng chữa: nam giới tinh lạnh, liệt dương; phụ nữ đái đục, bạch đới, người già đái són lạnh dạ; thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn. Ngày dùng 6-12g phối hợp với các vị khác dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

    Ở Ấn Độ, người ta xem cây này có tính chất nhầy dịu, lợi tiểu, bổ, kích dục, được dùng chữa trĩ, vàng da, hen suyễn, ỉa chảy, lậu.

    Dùng ngoài giã đắp chữa ngứa và bệnh ngoài da.

    Đơn thuốc:

    1. Chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương, phụ nữ tử cung lạnh: Sâm cau 6g, Thục địa, Ba kích, Phá cố chỉ, Hồ đào nhục mỗi vị 8g, Hồi hương 4g sắc uống.

    2. Chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược: Sâm cau 50g ngâm trong 150ml rượu trắng trong vòng 7 ngày, dùng uống hằng ngày trước 2 bữa ăn chính.




    Đây là tài liệu lấy tại trang chủ của Dongyvietnam và Đông y Tuệ tĩnh. Qua đây có thể thấy Sâm cau và Sâm đại hành là hai vị thuốc hoàn toàn khác nhau.

    Sâm đại hành thuộc họ Lay dơn, tác dụng Tư âm dưỡng huyết. Còn có tên khác là Tỏi đỏ

    Sâm cau thuộc họ Tỏi - Tác dụng bổ thận tráng dương. Có tên khác là Ngải cau, cồ nốc lan. Sâm cau thuộc họ tỏi nhưng lại không có tên là tỏi đỏ nên mọi người dễ nhầm (Mình cũng nhâm ). Hơn nữa hình dạng củ hok giống tỏi bằng Sâm đại hành. Hok nhầm mới lạ. Hì hì

    - Tuy nhiên Theo quyển "Cây thuốc và vị thuốc đông y" Của Hy lãn Hoàng Văn Vinh thì Sâm cau và sâm đại hành là 1. Sâm đại hành còn có tên khác là : Tỏi đỏ, sâm cau, tỏi lào, hành lào...Có lẽ tài liệu này đã nhầm chăng?
    (Sưu tầm)

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •