Kết quả 1 đến 7 của 7

Chủ đề: Củ Ba Kích

  1. #1
    Thanh_np Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Jul 2009
    Bài viết
    24

    Mặc định Củ Ba Kích

    Xin cho tôi được hỏi:

    - Ba kích có mấy loại? cách phân biệt? Loại nào tốt nhất.
    (vì tôi nghe có hai loại Trắng và Tím).

    - Tôi nghe người ta bảo khi chế biến củ Ba kích thì phải loại bỏ sợi gân bên trong củ. Xin cho hỏi tại sao? nếu để nguyên sợi gân ngâm rượu hoặc làm thuốc thì có ảnh hưởng gì k?

    Xin bác sĩ (đông y) giải đáp giúp tôi những thắc mắc trên.

    Xin cám ơn.

  2. #2
    Dongy Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    582

    Mặc định

    BA KÍCH THIÊN

    Tên khác:
    Vị thuốc Ba kích (Bản Thảo Đồ Kinh), còn gọi là Bất điêu thảo (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Ba cức, Diệp liễu thảo, Đan điền lâm vũ, Lão thử thích căn, Nữ bản (Hòa Hán Dược Khảo), Kê nhãn đằng, Đường đằng, Tam giác đằng, Hắc đằng cổ (Trung Dược Đại Từ Điển), Kê trường phong (Trung Dược Chí), Tam mạn thảo (Đường Bản Thảo), Thỏ tử trường (Trung Dược Tài Thủ Sách), Dây ruột gà (Việt Nam).

    Tác dụng:

    +Chủ đại phong tà khí, cường cân cốt, an ngũ tạng, bổ trung, tăng chí, ích khí (Bản Kinh).

    +Hạ khí, bổ ngũ lao, ích tinh (Biệt Lục).

    +Khứ phong, bổ huyết hải (Bản Thảo Cương Mục).

    +An ngũ tạng, định tâm khí, trừ các loại phong ( Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

    +Bổ thận, ích tinh, tán phong thấp (Bản Thảo Bị Yếu).

    +Hóa đờm (Bản Thảo Cầu Nguyên).

    +Cường âm, hạ khí (Dược Tính Luận).

    +Ôn thận, tráng dương, cường tráng cân cốt, khứ phong thấp (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

    +Bổ thận âm, tráng cân cốt, khứ phong thấp (Trung Dược Đại Từ Điển).

    +Bổ thận dương, cường cân cốt, khứ phong thấp (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

    +Bổ thận, tráng dương, cường cân cốt, khứ phong thấp (Thường Dụng Trung Thảo Dược Thủ Sách - Quảng Châu).

    Chủ trị:
    +Trị liệt dương [âm nuy bất khởi] (Bản Kinh).

    +Trị đầu diện du phong, bụng dưới đau xuống âm hộ (Biệt Lục).

    +Trị các chứng phong, thủy thũng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

    +Trị ngũ lao, thất thương, phong khí, cước khí, thủy thũng (Bản Thảo Bị Yếu).

    +Trị nam giới bị mộng tinh, di tinh, đầu mặt bị trúng phong (Dược Tính Luận).

    +Trị cước khí (Bản Thảo Cương Mục).

    +Trị ho suyễn, chóng mặt, tiêu chảy, ăn ít (Bản Thảo Cầu Nguyên).

    +Trị liệt dương, bụng dưới lạnh đau, tiểu không tự chủ, tử cung lạnh, phong hàn thấp,lưng gối đau (Trung Dược Đại Từ Điển).

    +Trị liệt dương, di tinh, không thụ thai do tử cung lạnh, kinh nguyệt không đều, bụng dưới lạnh đau, phong thấp đau nhức, gân xương mềm yếu (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

    +Trị thận hư, lưng gối mỏi, tê bại, phong thấp đau nhức, thần kinh suy nhược, liệt dương, di tinh, tảo tinh, tiết tinh, lãnh cảm, mất ngủ (Thường Dụng Trung Thảo Dược Thủ Sách - Quảng Châu).

    -Liều dùng: 6-12g dạng thuốc thang. Có thể ngâm rượu hoặc nấu thành cao, làm thành hoàn, tán...



    Kiêng Kỵ:
    +Phúc Bồn Tử làm sứ, ghét Lôi Hoàn, Đan Sâm (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

    +Những người bệnh tướng hỏa quá thịnh, âm hư hỏa vượng, đại tiện bón, tiểu đỏ, miệng đắng, mắt mờ, mắt đau, bứt rứt, khát nước, cấm dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

    +Âm hư, tiết tinh (do hỏa động), tiểu tiện không thông, miệng lưỡi khô, táo bón, kiêng dùng(Đắc Phối Bản Thảo).

    +Âm hư hỏa vượng, cấm dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

    +Người âm hư và bệnh tim không dùng (Trung Dược Học).

    + Âm hư hỏa vượng, táo bón: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

    -Đơn thuốc kinh nghiệm:

    + Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí: Ba kích thiên, Ngưu tất (sống) đều 3 cân ngâm với 5 đấu rượu, uống (Thiên Kim Phương).

    + Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ: Ba kích 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt (Ba Kích Hoàn - Cục Phương).

    + Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích 60g, Ngưu tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).

    + Trị tiểu nhiều: Ích trí nhân, Ba kích thiên (bỏ lõi), 2 vị chưng với rượu và muối, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử (chưng với rượu). Lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng rượu chưng hồ làm hoàn to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 12 viên với rượu pha muối hoặc sắc thành thang uống với muối ( Kỳ Hiệu Lương Phương).

    + Trị bạch trọc: Thỏ ty tử (chưng rượu 1 ngày, sấy khô), Ba kích (bỏ lõi, chưng rượu), Phá cố chỉ (sao), Lộc nhung, Sơn dược, Xích thạch chi, Ngũ vị tử đều 40g. Tán bột, Dùng rượu hồ làm hoàn, uống lúc đói với nước pha rượu (Phổ Tế Phương).

    + Trị bụng đau, tiểu không tự chủ: Ba kích (bỏ lõi), Nhục thung dung, Sinh địa đều 60g, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Sơn dược, Tục đoạn đều 40g, Sơn thù du, Phụ tử (chế), Long cốt, Quan quế, Ngũ vị tử đều 20g, Viễn chí 16g, Đỗ trọng (ngâm rượu, sao) 12g, Lộc nhung 4g. Tán bột, làm hoàn 10g. Ngày uống 2-3 hoàn (Ba Kích Hoàn - Chứng Trị Chuẩn Thằng).

    + Trị mạch yếu, mặt trắng nhạt, buồn sầu ca khóc: Ba kích (bỏ lõi), Hồi hương (sao), Nhục thung dung (tẩm rượu), Bạch long cốt, Ích trí nhân, Phúc bồn tử, Bạch truật, Mẫu lệ, Thỏ ty tử, Cốt toái bổ (bỏ lông), Nhân sâm đều 40g. Tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20g (Ba Kích Hoàn - Y Học Phát Minh).

    + Trị Thận bị hư hàn, lưng và gối đau, liệt dương, tiểu nhiều, không muốn ăn uống, xương khớp yếu, đứng ngồi không có sức, bàng quang bị yếu lạnh, vùng rốn và bụng đầy trướng: Ba kích 30g, Bạch linh 22g, Chỉ xác 22g, Hoàng kỳ 22g, Lộc nhung 30g, Mẫu đơn 22g, Mộc hương 22g, Ngưu tất 22g, Nhân sâm22g, Nhục thung dung 30g, Phụ tử 30g, Phúc bồn tử 22g, Quế tâm 22g, Sơn thù 22g, Tân lang 22g, Thạch hộc 30g, Thục địa 30g, Thự dự 22g, Tiên linh tỳ 22g, Trạch tả 22g, Tục đọan 22g Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, hoà mật làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu nóng, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Thánh Huệ Phương).

    + Trị thận bị hư lao, lưng và chân đau, chảy nước mắt sống, hoảng sợ, khát, ăn uống không tiêu, bụng ngực thường đầy trướng, tay chân tê đau, nôn ra nước chua, bụng dưới lạnh đau, tiểu són, táo bón: Ba kích 30g, Bá tử nhân 22g, Bạch linh 22g, Đỗ trọng 22g, Ngũ gia bì 22g, Ngưu tất 22g, Nhục thung dung 30g, Phòng phong 22g, Phúc bồn tử 22g, Thạch hộc 22g, Thạch long nhục 22g, Thạch nam 22g, Thiên hùng 30g, Thiên môn 40g, Thỏ ty tử 30g, Thục địa30g, Thự dự 22g, Trầm hương 30g, Tục đoạn 30g, Tỳ giải22g, Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, ngày uống 16 -20g với rượu nóng, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).

    + Trị nguyên khí bị hư thoát, mặt xạm đen, miệng khô, lưởi dính, hay mơ, hoảng sợ, chảy nước mắt sống, tai ù như ve kêu lưng nặng, đau, các khớp xương đau nhức, âm hư, ra mồ hôi trộm tay chân không có sức, tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều xích bạch đới hạ: Ba kích 90g, Lương khương 180g, Ngô thù 120g, Nhục quế 120g, Thanh diêm 60g, Tử kim đằng 500g. Tán bột, trộn với rượu nếp làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu hoà ít muối hoặc nước muối loãng (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương).

    + Trị liệt dương: Ba kích 30g, Đỗ trọng 30g, Ích trí nhân 30g, Ngũ vị tử 30g, Ngưu tất 30g, Nhục thung dung 60g, Phục linh 30g, Sơn dược 30g, Sơn thù 30g, Thỏ ty tử 30g, Tục đoạn 30g, Viễn chí 30g, Xà sàng tử 30g. Tán bột. Luyện mật làm hoàn, ngày uống 12 - 16 g với rượu, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Ngự Dược Viện).

    + Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, chuột rútû, thận hư, liệt dương : Ba kích 18g, Đương quy 20g, Khương hoạt 27g, Ngưu tất 18g, Sinh khương 27g, Thạch hộc 18g, Tiêu 2g. Giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15 - 20ml (Ba Kích Thiên - Thánh Tế Tổng Lục).

    + Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp: Ba kích (bỏ lõi ) 60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa 46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho vào bình, ngâm với 3 lít rượu. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 - 20ml, lúc đói (Ba Kích Thục Địa Tửu - Nghiệm Phương)

    + Trị sán khí do Thận hư: Ba kích thiên + Hoàng bá + Quất hạch + Lệ chi hạch + Ngưu tất + Tỳ giải + Mộc qua + Kim linh tử + Hoài sơn + Địa hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

    + Trị liệt dương: Ba kích thiên + Bá tử nhân + Bổ cốt chỉ + Câu kỷ tử + Lộc nhung + Ngũ vị tử + Nhục thung dung + Sơn thù du (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

    + Trị mộng tinh: Ba kích thiên + Bá tử nhân + Hoàng bá + Liên tu + Lộc giác + Phúc bồn tử + Thiên môn + Viễn chí (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

    + Trị liệt dương, di tinh, tiết tinh do Thận dương hư: Thỏ ty tử, Nhục thung dung (Trung Dược Học).

    + Trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ do Thận dương hư: Bổ cốt chỉ, Phúc bồn tử (Trung Dược Học).

    + Trị gân cơ sưng đau, gân cơ suy yếu, teo cơ, khớp đau mạn tính do Thận hư: Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục Đoạn (Trung Dược Học).

    + Trị liệt dương, tảo tinh, tiết tinh, lưng đau, vô sinh (ở nữ) do Thận dương hư: Ba kích thiên 12g, Ngũ vị tử 6g, Nhân sâm 8g, Thục địa 16g, Nhục thung dung, Long cốt, Cốt toái bổ đều 12g. Tán bột, trộn mật làm hoàn 12g. Ngày uống 2-3 lần (Ba Kích Thiên Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

    + Trị lưng đau, di tinh, hoạt tinh do Thận hư: Ba kích thiên, Đảng sâm, Phúc bồn tử, Thỏ ty tử, Thần khúc đều 12g, Sơn dược 24g. Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

    + Trị người lớn tuổi lưng đau, chân tê, chân yếu, chân mỏi: Ba kích thiên, Xuyên tỳ giải, Nhục thung dung, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, lượng bằng nhau, Lộc thai 1 bộ. Tán nhuyễn, trộn với mật làm hoàn. Mỗi lần uống 8g, ngày 2-3 lần với nước ấm (Kim Cương Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

    + Trị phong thấp đau nhức, cước khí, phù: Ba kích, Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục đoạn đều 12g, Tang ký sinh 10g, Sơn thù nhục 8g, Hoài sơn 16g. Sắc uống (Ba Kích Khu Tý Thang - Trung Dược Ưùng Dụng Lâm Sàng).

    + Trị huyết áp cao thời kỳ tiền mãn kinh: Ba kích thiên, Tiên mao, Hoàng bá, Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Đương qui, mỗi thứ 20 - 28g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

    (thaythuoccuaban)

  3. #3
    Dongy Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    582

    Mặc định

    Hiểu thêm về Ba kích

    Tên khoa học:
    Morinda officinalis How. Họ Cà Phê (Rubiaceae).

    Mô tả:
    Cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Thân non mầu tím, có lông, phía sau nhẵn. Cành non, có cạnh. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non mầu xanh lục, khi già mầu trắng mốc. Lá kèm mỏng ôm sát thân. Hoa nhỏ, lúc non mầu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3-1,5cm, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều. Tràng hoa dính liền ở phia dưới thành ống ngắn. Quả hình cầu, khi chín mầu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh. Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-10.

    Rễ dùng làm thuốc thường khô, thường được cắt thành từng đoạn ngắn, dài trên 5cm, đường kính khỏang 5mm, có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi nhỏ bên trong.Vỏ ngoài mầu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc. Bên trong là thịt mầu hồng hoặc tím, vị hơi ngọt. Ba Kích mọc hoang, phân bố nhiều ở vùng đồi núi thấp của miền núi và trung du ở các tỉnh phía Bắc. Ba Kích có nhiều ở Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Giang, Hà Tây. Ba Kích trồng được 3 năm có thể thu hoạch. Thời gian thu hoạch thường vào tháng 10-11. Dùng cuốc đào rộng chung quanh gốc, lấy toàn bộ rễ rửa sạch. Loại rễ to, mập, cùi dầy, mầu tía là loại tốt. Rễ nhỏ, gầy, cùi mỏng, mầu trong là loại vừa.

    Mô Tả Dược Liệu:
    Ba kích thiên hình trụ tròn, hơi cong, dài không nhất định, đường kinh 0,7-1,3cm. Mặt ngoài mầu vàng tro, nhám, có vân dọc. Vỏ ngoài và trong gẫy lộ ra phần lõi gỗ và vân nứt ngang, giống như chuỗi hạt trai. Chất cứng, cùi dầy, dễ bóc. Mặt gẫy mầu tím nhạt, ở giữa mầu nâu vàng. Không mùi, vị ngọt nhưng hơi chát.

    Bào chế:
    1. Dùng nước Câu Kỷ Tử ngâm Ba Kích 1 đêm cho mềm, lấy ra ngâm rượu 1 đêm, vớt ra, sao với Cúc Hoa cho vàng thuốc, dùng vải lau sạch, để dành dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).

    2. Ngâm với rượu 1 đêm cho mềm, xắt nhỏ, sấy khô, để dành dùng (Bản Thảo Cương Mục).

    3. Dùng Cam Thảo, giã dập, sắc, bỏ bã. Cho Ba Kích vào nấu cho đến khi xốp mềm, rút lõi, phơi khô. Liều lượng: 6kg Cam Thảo cho 100kg Ba Kích (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển)

    4. Diêm Ba Kích: Trộn Ba Kích với nước Muối (20g Muối cho 1kg Ba Kích), cho vào chõ, đồ, rút lõi, phơi khô (Trung Dược Đại Từ Điển).

    5. Rửa sạch, ủ mềm, bỏ lõi, thái nhỏ rồi tẩm rượu 2 giờ, sao qua hoặc nấu thành cao lỏng [1ml = 5g] (Phương Pháp Bào chế Đông Dược Việt Nam).

    -Thành phần hóa học:

    · Trong Ba Kích có Gentianine, Carpaine, Choline, Trigonelline, Díogenin, Yamogenin, Gitogenin, Tigogenin, Vitexin, Orientin, Quercetin, Luteolin, Vitamin B1 (Chinese Hebral Medicine).

    · Morindin, Vitamin C (Trung Dược Học).

    · Rễ chứa Antraglycozid, đường, nhựa, Acid hữu cơ, Phytosterol và ít tinh dầu, Morindin. Rễ tươi có sinh tố C (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

    · Trong Ba kích có Rubiadin, Rubiadin-1-Methylether (Vương Yến Phương – Thực Vật Học Báo 1986, 28 (5): 566).

    · Palmitic acid, Vitamin C, Nonadecane (Chu Pháp Dữ - Trung Dược Thông Báo q986, 11 (9): 554).

    · 24-Ethylcholesterol (lý Quán – Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí 1991, 16 (11): 675).

    Tác dụng dược lý:
    1. Tăng sức dẻo dai: Với phương pháp chuột bơi, Ba Kích với liều 5-10g/kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).

    2. Tăng sức đề kháng: dùng phương pháp gây nhiễm độc cấp bằng Ammoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15g/kg, Ba Kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại (Trung Dược Học).

    3. Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng Kaolin với liều lượng 5-10g/kg, Ba Kích có tác dụng chống viêm rõ rệt (Trung Dược Học).

    4. Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy Ba Kích không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon Androgen (Trung Dược Học).

    5. Nước sắc Ba Kích có tác dụng tương tự như ACTH làm cho tuyến ức chuột con bị teo (Trung Dược Học).

    6. Nước sắc Ba Kích có tác dụng làm tăng co bóp của chuột và hạ huyết áp (Trung Dược Học).

    7. Không có độc. LD50 của Ba Kích được xác định trên chuột nhắt trắng bằng đường uống là 193g/kg (Trung Dược Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).

    + Rễ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giáng áp huyết; có tác dụng nhanh đối với các tuyến cơ năng; tăng cường não; chống ngủ ngon dùng Ba kích nhục (Trung Dược Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).

    + Tác dụng đối với hệ nội tiết: Cho chuột và chuột nhắt uống Ba kích thiên thấy không có tác dụng giống như chất Androgen (Trung Dược Học).

    + Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba Kích có tác dụng làm tăng khả năng gioa hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì xử dụng Ba Kích chưa thấy kết quả (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

    + Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh nhân không biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảmgiác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).


    Tính vị:

    +Vị cay, ngọt, tính hơi ấm (Trung Dược Học).

    Quy kinh:

    +Vào kinh Tỳ và Thận (Lôi Công Bào chế Dược Tính Giải).

    +Vào kinh Tâm và Thận (Bản Thảo Tân Biên).

    +Vào kinh túc quyết âm Can và túc dương minh Vị (Bản Thảo Kinh Giải).

    +Vào kinh Thận (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

    +Vào kinh Can và Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).

    +Vào kinh Thận và Can (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

    Tham khảo:

    +”Ba kích thiên chủ đại phong tà khí và đầu diện du phong. Phong thuộc dương tà, phần lớn bốc lên trên. Kinh viết: Tà khí thịnh thì chính khí suy, Ba kích thiên có tác dụng bổ tráng dương khí mà đẩy tà khí. Khi chân khí được bổ thì tà khí yên, vì vậy nó trừ được đại phong tà khí vậy. Trị âm nuy bất khởi (liệt dương), cường cân cốt, an ngũ tạng, bổ trung, tăng chí, ích khí; dưỡng 2 kinh Tỳ và Thận , vì vậy các chứng hư tự khỏi. Trị bụng dưới đau lan đến âm hộ, hạ khí, bổ ngũ lao, ích tinh, lợi nam tử, ngũ tạng bị lao (hư yếu), thận hư, hạ khí, giáng hỏa, hỏa giáng thì thủy thăng, âm dương hỗ trợ, tinh thần yên ổn, cho nên chủ Thận khí bị thấp trướng, làm mạnh nguyên dương, trị các chứng hư, không cần làm cho nó hết mà nó hết vậy” (Bản Thảo Kinh Sơ).

    +”Ba kích thiên là thuốc chữa phần huyết của Thận kinh, bổ cho nguyên dương mà dưỡng Vị khí, các chứng hư đều tự hết; công dụng giống vị Tỳ giải và Thạch hộc. Trường hợp nhiệt nhiều, Ba kích hợp với Hoàng bá, Tri mẫu có tác dụng cường âm; Hợp với Nhục thung dung, Tỏa dương có tác dụng tráng dương, đó là cách dùng nhiệt để tránh nhiệt, dùng hàn để tránh hàn vậy”(Bản Thảo Hối).

    +”Nếu mệnh môn hỏa suy thì Tỵ Vị bị hư hàn, không thể kích thích tiêu hóa, dùng Phụ tử, Nhục quế để làm ấm mệnh môn, nhưng lại quá nhiệt, còn nếu dùng Ba kích thiên, vị ngọt ấm, bổ hỏa mà không nung đốt thủy sao? Hoặc hỏi rằng Ba kích thiên người đời sau dùng trong thuốc hoàn, tán, không dùng trong thuốc thang là sao ? Đáp: Ba kích thiên chính là vị thuốc hay trong thang dược, vì nó ấm mà không nhiệt, kiện Tỳ, khai Vị, ích nguyên dương, uống vào có thể trừ được âm thủy, là dụng cụ bồi tiếp trực tiếp, có công hiệu trực tiếp và gián tiếp”(Bản Thảo Tân Biên).

    +”Ba kích thiên là thuốc chủ yếu bổ Thận, năng trị ngũ lao, thất thương, cường âm, ích tinh, khí vị cay, ấm, có tác dụng khứ phong, trừ thấp, vì vậy, phàm các chứng lưng đau, gối mỏi, phong thấp, cước khí, thủy thủng, dùng Ba kích rất có ích. Xem trong bài ‘Địa Hoàng Ẩm Tử, dùng để trị phong tà, lấy Ba kích làm đầu, vì nó bổ âm vậy”(Bản Thảo Cầu Chân).

    +”Ba kích với Phá cố chỉ và Hồ lô ba đều có tác dụng ôn Thận nhưng Phá cố chỉ có sở trường đặc biệt là thu nạp được Thận khí, bình được suyễn nghịch do hư hàn; Hồ lô ba có tác dụng ôn tán hàn khí bên trong, trị bụng dưới đau do nội hàn; Ba kích thiên có tác dụng phát tán, thích hợp với chứng đau nội hàn do hàn tà bên ngoài gây ra. Tuy giống nhau về ôn Thận nhưng chủ trị khác nhau” (Đông Dược Học Thiết Yếu).

    +”Dâm dương hoắc bổ thận dương, thiên nhập vào phần khí của Thận kinh, có tính táo; Ba kích thiên bổ Thận dương, thiên nhập vào phần huyết của Thận kinh, không có tính táo. Nhục thung dung bổ Thận dương mà nhuận táo, thông tiện; Ba kích thiên bổ Thận dương mà có tác dụng trừ phong hàn, thấp tý. Ba kích thiên trị các chứng cước khí do:

    1. Nội nhân: Thận dương hư, thủy thấp đình trệ.

    2. Ngoại cảm phong hàn

    Ba kích bổ Thận tráng dương công hiệu không giống vị Uy linh tiên “ (Trung Dược Dược lý Độc lý Dữ Lâm Sàng).

    + Ba kích có tác dụng giống với Dâm dương hoắc, cũng có tác dụng làm mạnh gân xương, tán phong thấp. Nhưng Ba kích vị cay kèm ngọt, tính hoà hoãn hơn, tác dụng của nó chuyên về hạ tiêu, đa số dùng trong trường hợp lưng đau, mỏi gối, cước khí, còn tác dụng đối với trị chứng dương nuy thì không bằng Dâm dương hoắc (Thực Dụng Trung Y Học).
    (thaythuoccuaban)

  4. #4
    Dongy Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 4
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    582

    Mặc định

    Ba Kích Tím - Vị thuốc tăng cường chuyện ấy

    (NHN)Theo một nghiên cứu gần đây cho thấy, phần lớn những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, dối loạn cường dương đều do tâm ly, làm việc căng thẳng stress chứ không phải bệnh lý.

    Chuyện phòng the, ân ái tình cảm giữa hai vợ chồng không được như ý muốn đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hạnh phúc gia đình. Nhiều cặp vợ chồng dạn nứt, chia ly cũng bắt nguồn từ những nguyên nhân nhỏ nhặt đó. Gần đây, giới mày dâu rộ lên phong trào dùng những bài thuốc dân gian với chủ vị là củ Ba Kích Tím, theo y học cổ truyền thì đây là vi thuốc tăng cường thể lực, tráng dương, cường gân giúp cơ thể lấy lại trạng thái thăng bằng sau những giờ làm việc căng thẳng.

    Ba Kích Tím một loại Sâm quý

    Ba kích tím còn có tên gọi khác: Ba kích (Bản Thảo Đồ Kinh), Bất điêu thảo (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Ba cức, Diệp liễu thảo, Đan điền lâm vũ, Lão thử thích căn,..., Dây ruột gà (Việt Nam)..., tên khoa học Morinda officinalis How, là cây loại thảo, leo bằng thân quấn, sống lâu năm, mọc hoang ở ven rừng, trên đồi rậm. Thân non mầu tím, có lông, phía sau nhẵn. Cành non, có cạnh. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, quả hình cầu, khi chín mầu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh.

    Vị thuốc Ba kích tím là rễ củ của cây. Củ Ba kích tím có thể đào quanh năm, nhưng thường được lấy vào mùa thu, đông. Sau khi đào về, rửa sạch đất cát, cắt thành từng đoạn ngắn, được phơi hoặc sấy khô. Rễ cây có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi nhỏ bên trong.Vỏ ngoài mầu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc, bên trong là thịt mầu hồng hoặc tím.

    Ba kích tím có vị cay, ngọt, tính hơi ôn, không độc, một loại dược liệu quý có nhiều công dụng như bổ thần kinh, bổ gân cốt, khử phong thấp, giảm xơ cứng động mạch, tăng cường khả năng sinh lý nam giới... Do vậy, ba kích dùng để chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu, mềm, lưng gối mỏi đau.

    Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba kích tím có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba kích tím có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực.

    Đối với cơ thể những người tuổi già, bệnh nhân biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba kích tím có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảm giác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba kích dài ngày, các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt

    Có thể nói, Ba kích tím là một vị thuốc bổ trí não và tinh khí, dùng để chữa các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di mộng tinh, phụ nữ kinh nguyệt không đều. Nhiều nơi, người ta còn đào củ Ba kích tím về nấu với thịt gà, ăn để bồi bổ sức khỏe. Trong Đông y hiện đại, ba kích được xếp vào nhóm thuốc bổ dương. Tuy nhiên, cần chú ý, những người âm hư, hỏa thịnh, đại tiện táo bón không được dùng.

    Một số bài thuốc quý sử dụng chủ vị là Ba kích tím

    Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí: Ba kích tím, Ngưu tất (sống) đều 3 cân ngâm với 5 đấu rượu, uống.

    Trị mộng tinh: Ba kích tím + Bá tử nhân + Hoàng bá + Liên tu + Lộc giác + Phúc bồn tử + Thiên môn + Viễn chí.

    Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp: Ba kích tím (bỏ lõi ) 60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa 46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho vào bình, ngâm với 3 lít rượu. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 - 20ml, lúc đói.

    Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ: Ba kích tím 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt.

    Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích tím 60g, Ngưu tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm.

    Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, chuột rút, thận hư, liệt dương: Ba kích tím 18g, Đương quy 20g, Khương hoạt 27g, Ngưu tất 18g, Sinh khương 27g, Thạch hộc 18g, Tiêu 2g. Giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15 - 20ml.

    Ngoài vị thuốc củ Ba kích tím tươi, Ba kich tím phơi khô có thể chế biến như món ăn - bài thuốc chữa bệnh:

    30g Ba kích tím, 1 cái bong bóng (bàng quang) lợn. Làm sạch bong bóng lợn, sau đó nhồi ba kích vào, hầm cách thủy cho chín, thêm gia vị, chia ra ăn trong ngày. Ăn có tác dụng bổ thận, trợ dương, dùng chữa tiểu tiện nhiều lần, nhất là vào ban đêm, sắc mặt trắng nhợt, thần khí khiếp nhược.

    15g Ba kích tím , 2-3 bộ lòng gà. Cho lòng gà đã làm sạch, ba kích và nước vào nồi, nấu thành canh ăn có tác dụng bổ thận cố tinh, dùng để chữa di tinh và tảo tiết (xuất tinh sớm).

    250g lòng lợn, 50g Ba kích tím. Nhồi ba kích vào lòng lợn đã làm sạch. Để vào bát sứ, cho thêm hành, gừng, muối, gia vị và lượng nước thích hợp, hầm cách thủy cho chín, ngày ăn một lần, ăn liên tục trong nhiều ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, dùng để chữa sa dạ dày, sa tử cung.

    Đặc biệt không thể không kể đến phương thuốc “củ Ba kích tím ngâm rượu”. Theo các bài thuốc đông y và kinh nghiệm dân gian thì đây vẫn là một phương thức bào chế tối ưu có thể phát huy được công dụng tráng dương khí mà đẩy tà khí, cường cân cốt, an ngũ tạng, bổ trung, tăng chí, ích khí; cường âm.

    Ba kích tím ngâm rượu: Dùng 100g rễ Ba kích tím (bỏ lõi), 40g thục địa, 30g kỷ tử, 10g bổ cốt chi, 20g cam cúc hoa, ngâm với 2 lít rượu trắng (loại tốt) trong ít nhất một tháng. Hằng ngày, có thể uống 2-3 lần, mỗi lần 1 chén khoảng 20 - 30 ml, bồi bổ sức khỏe.

    Các Sản phẩm từ Ba kích tím

    Mặc dù tác dụng của Ba kích tím là không phải bàn cãi. Tuy nhiên hiện nay, các chế phẩm sản xuất từ vị thuốc này vẫn còn khá ít trên thị trường. Việc chế biến vị thuốc vẫn chủ yếu dựa vào các bài thuốc đông y và kinh nghiệm dân gian. Hiện nay sản phẩm chính từ củ Ba kích tím có mặt trên thị trường là Ba kích tím sấy khô và Ba kích tím ngâm rượu (được sản xuất bởi công ty công ty cổ phần Yến Ngọc tổ 11 khu 9 phường Bãi Cháy Tp. Hạ Long - Quảng Ninh). Mặc dù, theo khuyến cáo Ba kích tím ngâm rượu chỉ là sản phẩm chức năng, không phải là thuốc chưa bệnh, nhưng hiện nay ở một số nơi Ba kích tím ngâm rượu đã bị làm giả. Chính vì vậy, để tránh mua phải hàng giả, hàng nhái kém chất lượng khách hàng nên tìm đến những địa chỉ đáng tin cậy. Quý khách quan tâm tâm tới các sản phẩm về Ba kích tím có thể liên hệ với nhà hàng Mường Then khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính quận Cầu Giấy - Hà Nội.(Bấm vào đây để biết thông tin chi tết).

    MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ SẢN PHẨM CỦ BA KÍCH TÍM

    * Mặc dù, được coi là một vị thuốc bổ nhưng củ Ba kích tím lại có tính độc, chính vì vậy trước khi sử dụng người dùng cần làm sạch, bỏ ruột rồi chế biến tuỳ ý.
    Ba kích tím có thể dùng sản phẩm củ tươi hoặc sấy khô. Đặc biệt, Ba kích tím tươi ngâm rượu uống rất bổ và mát.

    * Hiện nay, tại Nhà hàng Mường Then đang có bán các sản phẩm củ Ba kích tím được khai thác từ vùng rừng núi Ba Chẽ Quảng Ninh như:

    + Củ Ba kích tím tươi: giá: 105 nghìn đồng/kg

    + Củ Ba kích tím khô: 265 nghìn đồng/kg

    + Ba kích tím ngâm rượu đóng chai: 330ml, giá 31 nghìn đồng/chai; dung tích 1,5l, giá 180 nghìn đồng/bình; dung tích 5l giá 500 nghìn/bình; loại 7l giá 680 nghìn/bình; loại 10l giá 950 nghìn/bình; loại 15l giá 1,3 triệu đồng/bình.

    (Các sản phẩm này có bán buôn và bán lẻ)

    * Địa chỉ liên hệ: số nhà 102 – 104 ngã tư Hoàng Ngân, Nguyễn Thị Định, khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính, quận Cầu Giấy – Hà Nội.

    SĐT: (04)35568481

    DĐ:0982.408.875 (nguoihanoi)

  5. #5
    Loire Đang Ngoại tuyến Banned
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    2,786

    Mặc định

    Trúng nghề Dongy sổ ra ghê thật.

  6. #6
    mr.le Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Feb 2010
    Bài viết
    2

    Mặc định

    Bài bác viết rất hay cơ mà chưa đúng ý câu hỏi của chủ thớt rồi ạ, em cũng đang băn khoăn tại sao phải bỏ lõi củ mã kích đây, thấy có nơi thì nói uống cả lõi bị giòn xương, có nơi thì bảo độc... chả biết thế nào nữa. Bác nào có thông tin gì thì chia sẻ cho ae với

  7. #7
    mr.le Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Feb 2010
    Bài viết
    2

    Mặc định

    bác oài, chủ thớt hỏi tại sao lại bỏ lõi mà? em có nghe nói ngâm cả rễ uống bị giòn xương, không biết có phải không ợ???
    Bác nào biết share cho ae với

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •