Kết quả 1 đến 5 của 5
  1. #1
    pk_phuhauduong's Avatar
    pk_phuhauduong Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    218

    Arrow Công dụng của cây rau má

    Công dụng của cây rau má

    Cây rau má còn gọi là tích tuyết thảo, phanok (Vientian), trachiek kranh (Campuchia). Tên khoa học Centella asiatica (L.) Urb., (Hydrocotyle asiatica L. Trisanthus cochinchinesis Lour.). Thuộc họ Hoa tán Apiaceae (Umbelliferae).

    Mô tả cây

    Rau má là một loại cỏ mọc bò, có rễ ở các mấu. Thân gầy, nhẵn. Lá hình mắt chim, khía tai bèo, rộng 2-4cm, cuống dài 2-4cm trong những nhánh mang hoa và dài 10-12cm trong những nhánh thường. Cụm hoa đơn mọc ở kẽ lá, gồm 1-5 hoa nhỏ. Quả dẹt rộng 3-5mm, có sống hơi rõ.

    Phân bố, thu hái và chế biến

    Mọc hoang tại khắp nơi ở Việt Nam và các nước vùng nhiệt đới như Lào, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ…
    Toàn cây khi tươi có vị đắng, hơi hăng khó chịu; khi khô chỉ còn mùi cỏ khô. Thu hái quanh năm. Dùng tươi hay sao vàng.

    Công dụng và liều dùng

    Rau má hiện nay còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân, đồng thời còn là loại rau ăn.
    Nhân dân ta coi vị rau má là một loại thuốc mát, vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc, có tính chất giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, dùng chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, lợi sữa.
    Ngày dùng 30-40g tươi, vò nát vắt lấy nước uống hoặc sắc uống. Thuốc làm từ rau má không độc, phụ nữ có thai vẫn dùng được.
    Tại một số nước, người ta còn nghiên cứu rau má để tìm tác dụng chữa bệnh hủi và bệnh lao.

    Ở vài nước, người ta chế rau má dưới dạng:

    1. Viên nén chứa 0,01g rau má để chữa các chứng giãn tĩnh mạch, chứng nặng chân do máu ở các tĩnh mạch chân chậm trở về tim.
    Ngày uống 3-6 viên vào bữa ăn.
    2. Thuốc tiêm 1ml chứa 0,02g cao rau má. Cách 1 ngày tiêm bắp 1 ống phối hợp bôi thuốc mỡ (1% cao rau má) hoặc thuốc bột chứa 2% cao rau má để chữa các vết bỏng, vết thương do chấn thương hoặc vết phẫu thuật, các tổn thương ở da và niêm mạc (tai, mũi, họng).
    Các đơn thuốc có rau má
    1. Chữa đau bụng, đi tiêu lỏng, đi lỵ:
    Rau má (cả dây, cả lá) rửa sạch, thêm ít muối, nhai sống. Ngày ăn chừng 30-40g (kinh nghiệm nhân dân). Có thể luộc rau má ăn như ăn rau.
    2. Chữa phụ nữ kinh nguyệt đau bụng, đau lưng:
    Rau má hái lúc ra hoa, phơi khô, tán nhỏ. Ngày uống một lần vào buổi sáng, mỗi lần hai thìa cà phê gạt ngang.
    3. Chữa rôm sẩy, mẩn ngứa:
    Hàng ngày ăn rau má trộn dầu dấm; Hoặc rau má hái về, giã nát, vắt lấy nước, thêm đường vào uống hàng ngày.

    GS. Đỗ Tất Lợi
     (Ngày 31/3/2005 - TC SK&ĐS)
    [COLOR="Blue"][URL="http://dongynet.com/f/showthread.php?t=94"]"SỐNG TRÊN ĐỜI SỐNG CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG"[/URL][/COLOR]

  2. #2
    sbl25062008 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Jan 2009
    Bài viết
    5

    Mặc định

    Nhưng mà có nhiều loại rau má lắm và tất nhiên là công dụng của mỗi loài là khác nhau.
    Vậy làm sao để phân biệt đây
    [COLOR="Red"][B][SIZE="3"][CENTER]NHÀ THUỐC GIA TRUYỀN
    Chuyên chữa các bệnh liên quan đến Phụ nữ
    (Vô sinh, Sản hậu, Dưỡng thai, Đau bụng khi thấy Kinh, Mất sữa...)[/CENTER][/SIZE][/B]
    [CENTER][B][URL="http://thuocnam.jin.vn/"]http://thuocnam.jin.vn[/URL][/B][/CENTER]
    [CENTER]Liên hệ: 02103507060[/CENTER][/COLOR]

  3. #3
    admin's Avatar
    admin Đang Ngoại tuyến Administrator
    Ngày tham gia
    Jul 2008
    Bài viết
    14

    Mặc định

    Chào bạn!
    Mình sẽ cung cấp cho bạn từng lọai cây rau má nhé.

    Rau má lá rau muống.
    Cây còn có tên là "muống cuống rau răm", "tiết gà", "tam tróc", "rau chua lè", "hoa mặt trời", "lá mặt trời"... Đông y Trung Quốc (Trung y) gọi là "dương đề thảo", "nhất điểm hồng", "hồng bối diệp"... Tên khoa học: Emilia sonchifolia (L) DC., thuộc họ Cúc. Khi sử dụng làm thuốc người ta thường hái toàn bộ phần cây trên mặt đất, có thể dùng tươi, phơi hoặc sấy khô.
    Theo Đông y, rau má lá rau muống (RMLRM) có vị đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, lương thuyết. Có thể dùng chữa lỵ, tiêu chảy, đại tiện ra máu, thủy thũng, viêm tai, viêm họng, mụn nhọt...
    Trong dân gian ở nước ta, thường dùng toàn cây tươi, giã nát đắp chữa mụn nhọt, sắc uống để chữa ho lâu ngày, hoặc ho lao và chữa sốt. Nước sắc dùng nhỏ mắt chữa đau mắt, nhỏ vào tai bị viêm, rửa mụn nhọt. Có nơi dùng ăn như rau, vị đặc biệt, hơi chua và hơi đắng.
    Tại Trung Quốc, còn sử dụng để chế thuốc tiêm, chữa viêm đường hô hấp trên ở trẻ nhỏ đạt kết quả tốt.
    - Liều dùng hàng ngày: Dùng 15 - 25 g cây khô (hoặc 30 - 60 g tươi) sắc uống. Dùng ngoài nấu nước rửa, giã đắp.
    Kiêng kỵ: Phụ nữ đang có thai sử dụng cần thận trọng.
    Một số cách sử dụng làm thuốc:
    - Chữa viêm họng sưng đau: Dùng RMLRM tươi, bạch mao căn (rễ cỏ tranh), mỗi thứ 30 g, sắc nước uống trong ngày.
    - Chữa viêm phổi nhẹ: Dùng RMLRM, sài đất, mỗi thứ 15 g, sắc uống trong ngày.
    - Chữa viêm thận cấp: Dùng RMLRM 15 g, lá diễn 15 g, xa tiền thảo (mã đề) 12 g, sắc lấy nước chia ra 3 lần uống trong ngày.
    - Chữa viêm ruột ỉa chảy: Dùng RMLRM 12 g, lá ổi 12 g, sắc lấy nước, chia ra 2 lần uống trong ngày.
    - Chữa viêm tai giữa: Dùng cây tươi giã nát, vắt lấy nước cốt, nhỏ vào tai bị viêm (Ngày nhỏ 3 - 4 lần, mỗi lần 2 giọt).
    - Chữa chín mé (sưng buốt đầu ngón tay): Hái một nhúm RMLRM tươi, giá nát với chút đường kính, đắp lên chỗ sưng đau, băng cố định lại.
    - Chữa hậu bối, nhọt độc, sưng vú: Hái một nắm RMLRM tươi, giã nát với chút đường đỏ, đắp lên chỗ sưng đau, dùng băng cố định lại.
    Lương y Hư Đan
    Thân mến!

  4. #4
    admin's Avatar
    admin Đang Ngoại tuyến Administrator
    Ngày tham gia
    Jul 2008
    Bài viết
    14

    Mặc định

    Rau má còn có tên là Tích tuyết thảo. Loại thực vật nầy mọc lan trên mặt đất có lá trông giống như những đồng tiền tròn được xếp nối tiếp nhau nên còn gọi là Liên tiền thảo. Rau má có tên khoa học là Centella asiatica (L.) thuộc họ Hoa tán Umbelliferae, là một thứ rau dại ăn được thường mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lủng, bờ mương thuộc những vùng nhiệt đới như Việt nam, Lào, Cambuchia, Indonesia, Malasia, Srilanka, Ấn độ, Pakistan, Madagascar . . Cây rau má có thân nhẳn , mọc lan trên mặt đất, có rể ở các mấu. Lá có cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân dạng lưới hình chân vịt. Hoa mọc ở kẻ lá. Cánh hoa màu đỏ hoặc tía.

    Thành phần

    Tuỳ theo khu vực trồng hoặc mùa thu hoạch tý lệ các các hoạt chất có thể sai biệt. Thành phần của rau má bao gồm những chất sau: beta caroten, sterols, saponins, alkaloids, flavonols, saccharids, calcium, iron, magnesium, manganese, phosphorus, potassium, zinc, các loại vitamins B1, B2, B3, C và K.

    Dược tính, công dụng

    Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào Can, Tỳ Vị có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy. Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng của rau má. Rau má có những hoạt chất thuộc nhóm saponins (còn được gọi là tripernoids) bao gồm asiaticoside, madecassoside, madecassic acid và asiatic acid. Hoạt chất asiaticoside đã được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao. Người ta cho rằng trong những bệnh nầy, vi khuẩn dược bao phủ bởi một màng ngoài giống như sáp khiến cho hệ kháng nhiểm của cơ thể không thể tiếp cận. Chất asiaticoside trong dịch chiết rau má có thể làm tan lớp màng bao nầy để hệ thống miển dịch của cơ thể tiêu diệt chúng.

    Đối với da, nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non. Hiên nay rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới hình thức thuốc tiêm, thuốc bột, thuốc mở để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết bỏng, vết thương do chấn thương, do giải phẩu, cấy ghép da, những vết lở lâu lành , vết lở do ung thư, bệnh phong, vẩy nến…

    Đối với tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu. Do đó rau má cũng hửu ích trong các chứng tăng áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới.

    Một vài toa thuốc có sử dụng rau má

    Toa căn bản:

    Toa căn bản ra đời vào khoảng năm 1950 do cụ Võ văn Hưng , một lương y giàu kinh nghiêm ở miền đông nam bộ soạn. Sau đó toa căn bản được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ Y tế thời bấy giờ hưởng ứng và khuyến khích sử dụng. Toa căn bản gồm 10 vị là toa thuốc rất quen thuộc ở các Bệnh viện, trạm y tế từ bộ đội đến nhân dân, đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỷ. Toa căn bản có đặc điểm là không có độc tính, dễ sử dụng, có tác dụng kích thích tiêu hoá, nhuận gan, nhuận trường, lợi tiểu, giải độc và tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Tuỳ theo tình trạng của người bệnh và điều kiện của địa phương mà linh động gia giảm vị thuốc hoặc liều thuốc.

    Toa thuốc gồm: Rau má 8g, Rể tranh 8g, Lá muồng trâu 4g, Cỏ mần chầu 8g Cỏ mực 8g, Cam thảo nam 8g.Ké đầu ngựa 8g, Củ sả 4g, Gừng tươi 4g, Vỏ quít 4g.

    Đổ 3 chén nước sắc còn non một chén, uống lúc thuốc còn ấm.

    Hoàn ích khí, dưỡng âm, trợ cơ, cứu đói.

    Có thể làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc ngưòi ốm mới khỏi hoặc dùng làm lương khô mang theo khi đi xa phòng khi thiếu thốn thực phẩm.

    Toa thuốc gồm 4 vị : Lá dâu tầm, Mè đen, Bột củ mài và Rau má.

    Mỗi vị ngang nhau, tán bột làm hoàn, mỗi hoàn khoảng 5g. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 hoặc 2 hoàn.

    Thoái nhiệt đơn.

    Có công dụng giảm nhiệt, hạ sốt, trừ khát, trấn kinh.

    Rau má 15%, Hoạt thạch 30%, Sắn dây 20%, Sài hồ 15%, Thạch cao 10%, Cam thảo 10%.

    Tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g.

    Thuốc hạ huyết áp.

    Rể nhàu 16g, Rể kiến cò 12g, Lá tre l2g, Rể tranh 12g,Rể cỏ xước 12g, Rau má 16g, Lá dâu 12g

    Sắc uống hoặc đóng viên làm trà uống thay nước hàng ngày.

    Sốt xuất huyết.

    Rau má 20g, Cỏ mực 16g, Rau sam 16g, Đậu đen 16g. Sắc uống.

    Nước ép rau má.

    Nước ép rau má là một cách sử dụng rau má đơn giản và thông dụng nhất. Nước ép rau má tươi có đầy đủ các hoạt chất và tác dụng đã đề cập. Mỗi người, mỗi ngày có thể dùng từ 30 đến 40g rau má tươi. Lá rau má mua về rửa sạch, giả hoặc xay nát. Cho thêm một ít nước vào. Vắt và lọc bỏ xác. Thêm vào một ít đường cho dễ uống.

    Lưu ý:

    Rau má có tính lạnh nên những người có Tỳ Vị hư hàn, hay đầy bụng hoặc đi tiêu lỏng cần cẩn thận khi dùng. Những trường hợp nầy chỉ nên dùng vài lá mỗi lần hoặc khi dùng kèm theo một vài lát gừng sống. Dùng ngoài da không giới hạn.
    (theo SK & ĐS)

  5. #5
    sbl25062008 Đang Ngoại tuyến Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Jan 2009
    Bài viết
    5

    Mặc định

    Tất cả có 7 loại rau má:
    1. Rau mà thường
    Tên khoa học: Centella asiatica (Linn) Urban
    Thuộc họ hoa tán (Apiaceae)
    2. Rau mà lá rau muống
    Tên khoa học: Emilia sonchifolia (Linn) DC
    Thuộc họ Cúc (Asteraceae)
    3. Rau má lá to
    Tên khoa học: Hydrocotyle nepalensis Hook
    Thuộc họ hoa tán (Apiaceae)
    4. Rau má lông
    Glechoma brevituba Kupr
    Thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae)
    5. Ra má mơ
    Tên khoa học: Hydrocotyle sibthorpioides Lam
    Thuộc họ hoa tán (Apiaceae)
    6. Rau má núi
    Tên khoa học: Geophila reniformis Don
    Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)
    7. Rau má nước
    Tên khoa học: Gymnotheca involucrata Péi
    Họ lá giấp (Saururaceae)
    Và tất nhiên là công dụng của 7 loại này là khác nhau, đề nghị các bạn tiếp tục nghiên cứu
    [COLOR="Red"][B][SIZE="3"][CENTER]NHÀ THUỐC GIA TRUYỀN
    Chuyên chữa các bệnh liên quan đến Phụ nữ
    (Vô sinh, Sản hậu, Dưỡng thai, Đau bụng khi thấy Kinh, Mất sữa...)[/CENTER][/SIZE][/B]
    [CENTER][B][URL="http://thuocnam.jin.vn/"]http://thuocnam.jin.vn[/URL][/B][/CENTER]
    [CENTER]Liên hệ: 02103507060[/CENTER][/COLOR]

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •