1. Nguyên nhân:

-Sốc tim: Nhồi máu cơ tim, nghẽn tắc động mạch phổi …

-Sốc do giảm thể tích máu: mất máu, mất nước nhiều.

-Sốc chấn thương.

-Sốc do rối loạn vận mạch: Nguyên nhân thần kinh, ngộ độc, dị ứng … làm rối loạn tuần hoàn ngoại vị. Sốc phản vệ được xếp trong loại này (Xem mục tiếp theo).

-Sốc nhiễm khuẩn.

2.Triệu chứng:

-Da xanh lạnh, vã mồ hôi, đầu chi tím tái.

-Huyết áp thấp, có thể rất thấp thậm chí không đo được.

-Mạch nhanh, nhỏ.

-Nhịp thở nhanh, nống.

-Ý thức: Vật vã, lơ mơ, hôn mê.

-Đái ít.

3.Xử trí:

-Đặt bệnh nhân nằm đầu thấp, kê chân cao 100 – 200 để máu tĩnh mạch dễ trở về tim; cho ủ ấm, uống nước chè đường nóng nếu bệnh nhân còn tỉnh.

-Bảo đảm không khí: Để đầu ngửa, nghiêng một bên, hút đờm rãi, cho thở ôxy.

-Đặt dây truyền dịch, bổ sung dịch thiếu bằng dung dịch Natri chlorua 9%0, dung dịch glucose 5% hoặc các dịch keo. Đối với sốc do mất máu, nếu có điều kiện truyền máu cùng nhóm thì tốt nhất.

-Theo dõi huyết áp, nếu bù đủ dịch mà huyết áp vẫn còn thấp thì truyền tĩnh mạch Noradrenalin 4 mg pha trong 500 ml dung dịch glucose 5% hoặc Dopamin 200mg pha trong 250 ml dung dịch glucose 5%. Khi huyết áp tâm thu đã lên >100 mmHg thì giảm tốc độ truyền để giữ mức huyết áp đó.

-Điều trị theo nguyên nhân:

.Chống đau (nếu có): Morphin, Atropin, an thần.

.Bổ sung máu, dịch trong sốc do mất máu, bổ xung đủ dịch trong sốc do mất nước …

.Nếu sốc do gãy xương lớn: Phóng bế Novocain 0,5% gốc chi, cố định tốt ổ gãy.

-Thuốc kháng sinh đặc hiệu, phổ rộng trong sốc nhiễm khuẩn và kháng sinh dự phòng trong tất cả các loại sốc.

4.Điều kiện chuyển tuyến sau:

-Bệnh nhân tạm thời ổn định: tự thở, mạch đều rõ, huyết áp tối đa >90 mmHg có thể chuyển bệnh nhân về tuyến sau. Vừa hồi sức vừa chuyển.

-Nếu bệnh nhân vẫn còn nặng, điều kiện vận chuyển khó khăn, phải mời tuyến sau lên chi viện.

( theo benhhoc )