Các chất trừ sâu có phospho hữu cơ vào người thấm qua da, hít vào phổi hoặc vào đường tiêu hoá (uống nhầm, tay dính hoặc ăn dính, tự tử …). Vào trong cơ thể, phospho hữu cơ gây độc bằng cách ức chế men Cholinesterase làm cho Acetycholin ứ đọng trong các sinap thần kinh – cơ gây nên các dấu hiệu bệnh lý liệt các cơ vân.

1.Triệu chứng: các triệu chứng xuất hiện vài giờ sau khi ngộ độc.

-Cường phế vị: nôn, đau bụng, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, co đồng tử, ỉa đái không chủ động, mạch chậm, huyết áp hạ, co thắt phế quản, tăng tiết dịch phế quản, ho, đôi khi phù phổi, ngừng thở.

-Về thần kinh vận động: co giật mí mắt, cơ mặt, rụt lưỡi, co cơ cổ và lưng có khi cứng toàn thân.

-Về thần kinh trung ương: hoa mắt, chóng mặt, run, vật vã, cơn co giật, nói khó, lẫn lộn, có khi bị hôn mê.

Nếu bị nhẹ, các triệu chứng giảm dần sau 2 – 3 ngày, đến khi tới 2 – 3 tuần lễ. Những trường hợp rất nặng chết rất nhanh, có trường hợp trong vòng 30 phút đến 1 – 2 giờ do tăng tiết phế quản, liệt cơ hô hấp.

-Téstatropin: tiêm tĩnh mạch 2 mg Atropin:

+Đồng tử ít thay đổi, không giãn to, mạch không nhanh lên hoặc nhanh ít: nghĩ đến ngộ độc do phospho hữu cơ.

+Đồng tử giản to ngay, mạch nhanh ngay, da đỏ nóng, nếu bệnh nhân tỉnh sẽ vật vã, kích thích: không nghĩ đến ngộ độc do phospho hữu cơ.

2.Xử trí:

Xử trí ngay tại bệnh xá:

-Nếu chất độc vào qua đường tiêu hoá, phải rửa dạ dày bằng dung dịch Natri bicarbonat. Rửa nhiều nước cho đến khi hết chất độc trong nước rửa dạ dày (có khi tới 40 – 60 lít), nước ấm. Uống than hoạt lòng trắng trứng.

-Nếu chất độc ở da, phải rửa da bằng nước xà phòng.

-Dùng Atropin liều cao: tiêm tĩnh mạch 0,5 – 2 mg, cứ 2 giờ 1 lần cơ thể nhẹ, cứ 15 phút 1 lần với thể nặng cho đến khi da nóng, đồng tử giãn 5 mm (tình trạng thấm Atropin). Theo dõi đồng tử, ví dụ sau 20 phút, đồng tử co lại <4mm thì cứ 20 phút tiêm nhắc lại, đồng tử và mạch trở lại bình thường, liều dúng Atropin có khi tới 60mg.

Dấu hiệu ngộ độc Atropin: Đồng tử giãn to, mồm khô, mắt đỏ, nhịp tim nhanh.

-Nếu có thuốc 2-PAM dung dịch 2,5% 1 – 2g tiêm tĩnh mạch chậm 5- 10 phút, sau nhỏ giọt tĩnh mạch 0,5 g/giờ.

-Chống tim mạch: bù dịch bằng dung dịch riger lactat, dung dịch muối 9%.

-Hồi sức hô hấp: thở ôxy, nếu suy hô hấp cấp, đặc Masque bóp bóng và chuyển tuyến bệnh viện ngay.

-Khánh sinh chống bội nhiễm.

3.Điều kiện chuyển tuyến sau:

-Bệnh nhân tạm thời ổn định: tự thở, mạch đều rõ, huyết áp tối đa > 90mmHg có thể chuyển bệnh nhân về tuyến sau. Vừa hồi sức vừa chuyển.

-Nếu bệnh nhân vẫn còn nặng, điều kiện vận chuyển khó khăn, phải mời tuyến sau lên chi viện.

( theo benhhoc )