Máu đi khắp cơ thể nhờ sự vận chuyển của hệ thống các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch, và bất kỳ sự tổn hại nào cho hệ thống này đều dẫn đến xuất huyết. Xuất huyết được chia thành xuất huyết ngoại và xuất huyết nội. Xuất huyết ngoại do một vết rách ở bề mặt da, thường là các vết thương có nhiều loại khác nhau. Xuất huyết nội là sự chảy máu bên trong cơ thể khi không có vết thương bên ngoài để máu có thể thoát ra. Loại xuất huyết nội phổ biến nhất là một vết bầm nhỏ do một va chạm nhẹ. Các va chạm nặng như tai nạn xe cộ, đánh nhau hoặc té ngã, có thể dẫn đến xuất huyết nội nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong.

Bạn sẽ rất hoảng sợ khi tình cờ gặp một người đang bị chảy máu rất nặng. Một điều an tâm là nhiều người trưởng thành hiến một lượng máu là 570ml không gây ra triệu chứng bệnh nào, và nếu một lượng máu tương đương như thế đổ ra sàn nhà sẽ trông rất khiếp sợ. Cơn sốc nghiêm trọng ở một người trưởng thành có thể làm mất chỉ 2 pint (khoảng 1 lít) máu hoặc nhiều hơn, mặc dù vậy vẫn có thể chữa trị hiệu quả với sự sơ cứu tốt và điều trị bệnh viện sớm.

Làm thế nào để cơ thể dừng chảy máu?


Khi một mạch máu bị xé rách hoặc bị cắt, một loạt các phản ứng hóa học xảy ra, là nguyên nhân hình thành một cục máu đông đóng kín vết thương. Các thành phần của máu như là tế bào hình dĩa tập trung tại vết cắt. Các mô bị tổn thương và tế bào hình dĩa này giải phóng các chất hoạt hóa các protein là yếu tố làm đông máu. Các phản ứng này với một protein đặc biệt (fibrinogen) hình thành một mắc lưới các sợi nhỏ bắt giữ các tế bào máu. Một cục máu đông cơ bản được hình thành chứa các bạch cầu để chiến đấu chống lại sự nhiễm trùng và các tế bào máu đặc trưng giúp tăng cường quá trình chữa trị vết thương và hồi phục. Thời gian sau, nơi vết thương hình thành một vảy mài bảo vệ vết thương cho đến khi quá trình làm lành vết thương hoàn tất. Nếu ấn vào vết thương là bạn đang giúp cho quá trình đông máu.

Khi bị tổn thương, mạch máu lập tức co lại để giảm lượng máu chảy và mất máu. Tế bào máu hình dĩa bám vào thành mạch máu gần vết thương.


Các tế bào máu hình dĩa kết thành khối tại vết thương, và cùng với các mô bị tổn hại giải phóng các chất tạo điều kiện để một loạt các phản ứng phức tạp xảy ra làm nguyên nhân đông máu.

Phần cuối cùng của quá trình hóa học là sự chuyển đổi của protein fibrinogen trong huyết tương của máu vào các mạch có tính dính, hình thành nên các mắc lưới rối để bắt giữ tế bào.

Các tế bào bị giữ lại trong lưới hình thành nên cục máu đông tại vết thương. Sau đó, cục máu cứng lại hình thành lớp mài bảo vệ vết thương trong khi quá trình hàn gắn diễn ra.

SỰ LƯU THÔNG CỦA MÁU

Động mạch có lớp thành cơ dày, dùng để co đẩy, tạo áp suất đẩy máu ra khỏi tim. Máu bên trong động mạch đầy oxy, được lấy từ phổi, và chức năng chính của động mạch là dẫn máu giàu oxy này đến các cơ quan và các mô. Vì máu chịu áp suất, và chứa đầy oxy, xuất huyết động mạch đặc trưng bởi dòng máu đỏ tươi phun ra từ vết thương. Xuất huyết động mạch rất nghiêm trọng do mất máu rất nhanh.

Tĩnh mạch có thành mỏng và dẫn máu từ các cơ quan và mô trở về tim. Chúng không có cơ và phụ thuộc vào hoạt động của các cơ xung quanh để nén máu đi vòng quanh. Để máu di chuyển theo một hướng xác định vòng quanh cơ thể, các tĩnh mạch có một loạt các van một chiều giúp máu chảy theo một hướng. Khi các van này hỏng, máu tụ lại làm tĩnh mạch sưng phồng lên. Điều này làm cho thành tĩnh mạch yếu đi, dẫn đến kết quả là giãn tĩnh mạch. Tuy lượng máu mất trong xuất huyết tĩnh mạch không nhanh bằng lượng máu mất qua hiện tượng xuất huyết động mạch nhưng nó cũng có nguy cơ tiềm ẩn nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong. Xuất huyết tĩnh mạch có vẻ như chảy máu từ một vết thương và vì máu trong tĩnh mạch chứa ít hoặc không còn oxy nên máu có màu đỏ thẫm.

Mao mạch là những mạch máu có thành rất mỏng. Máu bị áp suất đẩy qua các mao mạch, là nguyên nhân để thức ăn và oxy chứa trong máu được đẩy vào nuôi các cơ quan và mô.

CÁC LOẠI CHẤN THƯƠNG

Xuất huyết nhỏ rất phổ biến và ít khi cần nhiều chữa trị. Xuất huyết nhiều nếu không được chữa trị, có thể dẫn đến sốc và có khả năng gây ra tử vong.

Vết rạch Vết cắt sâu và thẳng đặc trưng bởi vết giấy cắt hoặc dao cắt được gọi là vết rạch. Những vết thương này có khuynh hướng mất máu không nhiều, chỉ gây ra những tỗn hại bên dưới như gân và các mô khác.

Vết rách Là những vết thương lởm chởm, không đều, mất máu nhiều.

Vết đâm là những vết thương sâu gây ra bởi một vật dài ví dụ như kim may đồ. Vết thương loại này không có khuynh hướng chảy máu nhiều nhưng nó mang nguy cơ nhiễm trùng cao do các chất dơ, bẩn đi một quãng dài vào mô. Và nguy cơ cao hơn là tổn thương các cơ quan cần cho sự sống như là phổi và gan.

Vết xước Là loại vết thương phổ biến, là những tổn hại đến các lớp ngoài cùng của da. Chúng không gây ra mất máu nhiều nhưng thường dơ, bẩn do vết xước thường có các mảnh vụn gắn vào.

Vết thương bị đâm là những lỗ gây ra bởi vật dài nhọn như kim may. Chúng không làm chảy máu nhiều nhưng có thể mang các chất dơ bẩn và sâu các mô cơ thể gây nhiễm trùng.

Vết cắt sâu, gọn gây bởi dao hoặc giấy gọi là vết rạch. Các mô cơ bản và các gân có thể bị tổn hại mặc dù chảy máu ít.

Vết xước xuất hiện khi các lớp ngoài cùng của da bị tổn thương, thường là do té. Vết xước ít khi gây chảy máu nhiều nhưng có các mảnh vụn dính vào.

CÁCH CHỮA TRỊ

Ba nguyên tắc chính để chữa trị xuất huyết ngoại là:

· Quan sát

· Cung cấp lực ấn đúng hướng

· Làm phấn chấn tinh thần

Khi chữa trị xuất huyết, việc chữa trị giống một cơn sốc cũng quan trọng như việc sắp xếp thích hợp một sự trợ giúp phụ.

Quan sát vết thương kiểm tra độ rộng và phải đảm bảo vết thương không có vật gì bên trong (gọi là vật ngoài).

Cung cấp một áp lực đúng hướng vào vết thương. Nếu nạn nhân có thể tự ấn vào vết thương, hãy khuyến khích họ làm như thế. Nếu không, bạn phải ấn bằng ngón tay của bạn hoặc nếu bạn có vật nào trong tay thì dùng một miếng vải vô trùng hoặc mảnh quần áo sạch.

Ấn một lực đúng hướng vào vết thương giúp cho máu đông lại, ngăn không cho máu chảy ra từ vết cắt. Sau khi ấn, một miếng vải vô trùng (hoặc bất cứ gì trong tay bạn), nên được đặt vào vết thương với một miếng băng cố định hoặc miếng băng dã chiến làm ngay được như một cái khăn choàng hoặc caravát).