Bệnh hen phế quản là một trong các bệnh hay gặp nhất trên thế giới. Hiện có khoảng 300 triệu người mắc bệnh hen. Hen ác tính (HAT) gặp từ 5-12% ở bệnh nhân hen. Tỷ lệ tử vong trong các Khoa hồi sức tích cực là 5%. Theo sự phân bậc hen tại Đại hội Hô hấp châu Á - Thái Bình Dương tại Quảng Châu thì HAT được xếp vào bậc 4, tức bậc nặng và kéo dài.

HAT là gì?

HAT là một tình trạng đặc trưng bởi sự co thắt kịch phát của các phế quản nhỏ. Hiện tượng viêm là yếu tố quan trọng của sinh bệnh học, gây nên co thắt phế quản và tăng tính phản ứng của phế quản. Các tiểu phế quản tận cùng hai phổi bị tắc nghẽn nặng do dịch quánh dính. Các phế quản nhỏ và trung bình bị xẹp lại ở thì thở ra. HAT là cơn hen nặng kéo dài 1-2 ngày, mà dùng các thuốc giãn phế quản thông thường không có hiệu quả. Thể tối cấp tính làm bệnh nhân ngạt thở đột ngột, người tím ngắt, có thể tử vong trong vòng một giờ.

Các yếu tố nào dẫn đến HAT?

Trong tiền sử bệnh nhân đã có cơn hen nặng phải nằm ở khoa điều trị tích cực. Có thể bệnh nhân dùng corticoid dài ngày, nay ngừng đột ngột. Bệnh nhân dùng các loại thuốc: aspirin hoặc sunfit, kháng sinh penicillin, dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn bêta; do stress bởi tâm lý, tình cảm, do gắng sức; do dị nguyên ngoại sinh xâm nhập như phấn hoa, lông thú, thức ăn...

Các dấu hiệu đe dọa, xuất hiện HAT: Cơn hen xuất hiện ngày càng nhiều, khoảng cách giữa các cơn hen ngắn lại. Giữa hai cơn hen phổi không trở lại bình thường. Liều lượng thuốc cường bêta phải tăng liên tục. Lưu lượng đỉnh thở ra giảm dần. Bệnh nhân rất mệt.

Các biểu hiện của HAT

Bệnh nhân khó thở không nằm được, phải ngồi ngả đầu ra phía trước. Tiếng nói đứt đoạn, chỉ nói được từng từ. Ho khó, thở rít sâu, tần số trên 30 lần/phút. Vã mồ hôi, giãy giụa. Có thể ngủ gà, ngủ gật, lú lẫn. Co kéo cơ hô hấp trên ức và cơ ức đòn chũm. Mặt tím tái. Nghe phổi nhiều ran rít. Nhịp tim nhanh trên 120 lần/phút. Khi rất nặng thì mạch chậm, nghe phổi mất tiếng ran, rì rào phế nang giảm. Các test thử về chức năng hô hấp FEV1 < 60%. Ôxy máu giảm đến mức thấp nhất. HAT nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng nguy kịch: Hôn mê, thở nông, yếu, ngừng hô hấp. Trụy tim mạch, mạch chậm, tím tái, vã mồ hôi, giãy giụa. Nghe phổi không thấy tiếng ran và rì rào phế nang mất (gọi là phổi câm). Bệnh nhân chết rất nhanh chóng.

Xử trí HAT

Nguyên tắc: Phải khẩn trương, cấp cứu ngay tại nhà và tiếp tục trên đường đi đến viện.

Bóp bóng qua mặt nạ với ôxy 100%. Nhanh chóng đặt nội khí quản để tiến hành thở máy qua nội khí quản. Nếu không đặt được nội khí quản, hoặc bệnh nhân ngừng tuần hoàn, cần tiến hành mở khí quản cấp cứu.

Các thuốc giãn phế quản

- Salbutamol 5mg, pha dung dịch natriclorua 0,9% hoặc glucoza 5% truyền tĩnh mạch bằng bơm tiêm điện hoặc dây truyền dịch thông thường 0,5mg/giờ (0,1-0,2 microgam/kg/phút). Tăng dần tốc độ truyền 15 phút/lần, đến khi có hiệu quả. Có thể tăng đến 4mg/giờ.

Có thể dùng thay cho thuốc cường bêta 2 là epinephrin (adrenalin) 0,3 microgam pha loãng 1/10 truyền tĩnh mạch. Có thể nhắc lại sau 5 phút. Nếu chưa đạt hiệu quả thì truyền tiếp adrenalin tĩnh mạch liên tục với tốc độ khởi đầu 0,2-0,3 microgam/kg/phút.

- Corticoid: Methyl prednisolon 40mg, tiêm tĩnh mạch 4 giờ/lần.

Các biện pháp phối hợp: Truyền dung dịch hoặc uống nhiều nước. Chống bội nhiễm, dùng kháng sinh nhóm macrolid và quinolon. Không dùng penicillin.

Nếu điều trị không kết quả, phải chuyển bệnh nhân đến khoa điều trị tích cực.

Trong thực tế thường phải cấp cứu ngay tại nhà. Vì không có sẵn máy móc, trong khi chờ đợi xe cấp cứu đến, có thể cho bệnh nhân dùng bình xịt ventolin, tiêm 1/3 ống adrenalin vào dưới da, tiêm aminophillin với dung dịch glucoza vào tĩnh mạch chậm 10-20 phút. Nếu ngừng thở thì làm hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt.

Đối với những người có nguy cơ đe dọa xuất hiện HAT cần phải điều trị tích cực theo chỉ dẫn của bác sĩ. Loại bỏ các yếu tố dẫn đến HAT như đã nêu trên. Khi có biểu hiện cơn khó thở liên tục, kéo dài, tăng liều thuốc điều trị mà không có hiệu quả thì phải nhập viện để kịp thời cấp cứu.