Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    nguyenthihanoimoi Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Jan 2019
    Bài viết
    296

    Mặc định Vợ chồng tôi từ Bình Định vào đây lập

    Vợ chồng tôi từ Bình Định vào đây lập nghiệp, tôi 29 tuổi, ngoại hình ưa nhìn, có hai con đủ nếp tẻ, các cháu còn nhỏ, chồng làm kinh doanh điện tử, tôi làm văn phòng giờ hành chính. Chúng tôi đang ở nhà thuê, vào Sài Gòn lập nghiệp nên không nhờ vả ông bà nhiều vì ông bà cũng không dư giả; mà vợ chồng cũng không nghĩ tới chuyện đó, miễn ông bà khỏe mạnh là được. Hàng ngày, hết giờ hành chính tôi về nhà lo cơm nước cho chồng con, vì đặc thù công việc nên anh phải về muộn. Chi tiết xem tại đây: chuyển nhà thành hưng

    Tôi thương anh phải bươn chải nhiều, mọi việc trong nhà tôi chủ động lo hết để anh có thời gian lo cho công việc. Anh yêu thương vợ con nhưng coi thường công việc vợ đang làm vì cho rằng chỉ có kinh doanh mới giàu được. Tôi muốn lo cho con đầy đủ nên ngoài giờ hành chính luôn đặt trọn tâm trí vào con. Tôi sống giản dị, không mua sắm gì nhiều, ưu tiên cho con hết. Chồng không nghĩ vậy, bảo tôi phải thay đổi tư duy, suy nghĩ, không nên bằng lòng với công việc hiện tại. Tôi không biết phải làm sao khi ngoài giờ làm việc thì lo cho con cái đã hết cả thời gian rồi. Có phải tôi là người phụ nữ kém cỏi khi để chồng tự bươn chải, vất vả, trong khi mình bằng lòng với công việc hành chính và chăm sóc con nhỏ? Tôi mệt mỏi lắm, xin mọi người cho lời khuyên.

  2. #2
    nguyenthihanoimoi Đang Ngoại tuyến Thành Viên Cấp 3
    Ngày tham gia
    Jan 2019
    Bài viết
    296

    Mặc định

    chuyển nhà thành hưng hà nội 40 năm trước, tôi chỉ là cô bé 7 tuổi, người bé tẹo nhưng những ký ức cùng cha mẹ và anh chị trong gia đình đi chạy giặc và những ngày cùng chị gái bị lạc trong rừng không thể nào quên được”, chị Lê Thị Bay mở đầu câu chuyện với PV Dân Việt.

    Tháng 2.1979, khi quân xâm lược Trung Quốc tràn sâu vào tỉnh Cao Bằng, cũng như những người dân cùng xóm, gia đình ông Lê Văn Tiệu (bố chị Bẩy và Bay) cùng chạy vào xã Bình Dương, huyện Hòa An, Cao Bằng để tìm đường xuyên ra quốc lộ 3 về hướng Bắc Kạn. Tối hôm đó sau khi ngớt tiếng súng, gia đình ông Tiệu và một số gia đình khác tìm đến một lán trên rẫy của người dân địa phương để trú chân.

    Một số gia đình có đèn dầu mang theo nhưng không ai dám thắp vì sợ có ánh sáng quân Trung Quốc sẽ ập đến. Giữa không gian yên ắng đó bỗng trong đoàn có người làm rơi chiếc vung nồi kêu loảng xoảng. Mọi người phát hoảng lo là giặc đến nên chạy tứ tung. Bố dắt tôi và chị Bẩy chạy, còn mẹ và các anh chị chạy hướng khác”, chị Bay kể.

    Trời tối, bố con chị Bay dắt díu nhau vừa chạy vừa tìm đường, mấy lần định xuống đường dân sinh nhưng nghe tiếng quân Trung Quốc gọi nhau í ới lại phải chạy tiếp. Qua một đêm và một ngày không tìm người thân, quen nào, sẩm tối hôm đó khi đến khu rừng ở Tài Hồ Sìn ông Tiệu đưa hai cô con gái nằm ở gốc cây, lấy lá chuối khô che lên người hai con rồi dặn: Con nằm yên ở đây, bố đi tìm đường lát quay lại đón.

    Ra tìm đường, ông Tiệu bị dân quân xã nghi ngờ là gián điệp cho quân Trung Quân nên giữ lại. Dù ông giải thích, van xin còn hai con nhỏ đang nằm ở bìa rừng nhưng không ai tin. Ông bị giữ hết đêm, đến hôm sau nhờ nói tên người quen và được họ đến bảo lãnh ông mới được thả. Quay trở về nơi hai con gái nằm ông bàng hoàng khi chúng không còn ở đó. Chạy tìm khắp xung quanh nhưng không thấy bóng dáng con đâu.

    Mẹ cạn hết nước mắt

    “Sáng hôm sau hai chị em ngủ dậy không thấy bố đâu nên chạy đi tìm và bắt đầu bị lạc. Chị dắt em men theo suối vừa đi vừa gọi bố, giữa rừng vắng thỉnh thoảng tiếng pháo giặc nổ xé rừng, chim bay dáo dác. Hai chị em sợ quá chạy ngã dúi dụi”, chị Bay cho biết.

    Những ngày còn ở nhà hai đứa trẻ Bẩy 9 tuổi, Bay 7 tuổi vẫn được bố mẹ xào lõi chuối cho ăn, nhờ thế những ngày đầu bị lạc họ cũng biết tìm đến những cây chuối bị đổ trong rừng để tước vỏ lấy lõi về ăn sống, rồi ăn quả chuối rừng. Một tối cô bé Bay mang quả chuối rừng hái được hồi chiều ra ăn, nhưng chuối chưa chín, chát không ăn được nên cô bé bỏ vào túi áo rồi nằm thiếp đi. Quả chuối vô tình được ủ hơi nóng từ người nên sáng hôm sau chín hơn và ăn không bị chát. “Từ đó mình có thêm kinh nghiệm, mỗi tối khi đi ngủ lại ủ hai quả chuối rừng vào người để chín sáng ra có cái ăn”, chị Bay nhớ lại.

    Khoảng thời gian bị lạc trong rừng, ban ngày hai chị em dắt nhau đi tìm bố mẹ, đến tối tìm bãi đất trống rồi lấy lá cây làm chiếu, phủ lên chân. Hai chị em cởi áo bông và áo len vẫn mặc làm chăn đắp. Ngày qua ngày, hai chị em càng đi tìm càng bị lạc xa hơn, người cứ lả dần đi vì đói khát.

    “Có lần đói quá hai chị em bò vào rẫy để mót sắn. Trông thấy củ sắn nhỏ bằng đầu ngón chân cái hai chị em dùng cây hì hụi bới mãi nhưng củ sắn chỉ nhô ra chưa được 10cm. Hai chị em chụm lại cùng nhổ nhưng vì không còn sức nên bị ngã ngửa rồi lăn xuống chân đồi. Lúc lồm cồm bò dậy, giây phút hồn nhiên của tuổi thơ ùa về nên hai chị em đã cười, nhưng vì tiếng cười yếu ớt nghe như tiếng thở dài. Trời tối, chị em lại bảo nhau tìm chỗ ngủ để sáng mai đào tiếp, nhưng sáng ra củ sắn vừa nhô lên đó bị con dúi ăn hết”, chị Bay kể.

    Thời gian đó cô bé Bay đang ở tuổi thay răng, những lúc đào được khoai, sắn trên rẫy chị Bẩy phải nhá đút cho em. Trong những ngày hai chị em ngủ trong rừng, một đêm trời mưa rất to kéo dài hết đêm. Hai chị em dắt nhau tới một gốc cây to đứng ôm nhau khóc tới sáng. Ở nơi xa, mẹ của hai bé bà Lê Thị Đoa cũng cạn hết nước mắt.

    Trong những ngày đó gia đình cô bé Bẩy – Bay tổ chức đi tìm kiếm khắp nơi, họ băng qua bao cánh rừng, khe suối nhưng không có kết quả. Có lúc nghe người dân địa phương bảo đêm nghe tiếng khóc của trẻ em khu này, khu kia, nhưng khi người nhà hai bé đến nơi lại chỉ tiếng có dấu chân mà không thấy bóng người.

    “Càng ngày hai chị em càng mệt lả, tai ù, mắt nhìn chỉ thấy mờ mờ. Có những lúc nghe thấy tiếng người ở gần nhưng sợ là quân Trung Quốc nên không dám ra”, chị Bay nói.

    Một buổi sáng tháng 3.1979, khi mặt trời lên cao, những tia nắng rọi qua các tán lá rừng, hai cô bé Bẩy – Bay dìu nhau ra phía bờ suối. Họ bỗng nghe thấy tiếng gọi “Bẩy – Bay ơi”. Cô bé Bay lúc này còn tỉnh táo hơn chị nên đã nói “hình như có tiếng gọi mình”. Hai chị em ngồi thụp xuống bên một lùm cây. Tiếng gọi “Bẩy – Bay” mỗi lúc một gần. Cô bé Bẩy dồn sức cố u lên một tiếng. Theo tiếng thưa yếu ớt, ông Lê Văn Tiệu và người con gái lớn gạt những vạt cây tìm tới. Hai người vỡ òa khi thấy cô bé Bẩy – Bay đang co ro trong lùm cây. Tính tới hôm đó, hai bé Bẩy – Bay đã trải qua đúng 23 ngày lạc cha, mẹ, người thân.

    Ông Nông Thanh Quế, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Cao Bằng (ảnh rể của hai chị Bẩy - Bay) nhớ lại: Sau ngày hai người được đưa về nhà, cô bé Bẩy bị ảnh hưởng nên hằng ngày cứ im lặng, ngồi đâu ngồi đó, phải mất một thời gian sau mới trở lại bình thường. Còn cô bé Bay dù sức khỏe chưa phục hồi nhưng vẫn cố chống gậy bước ra khi hàng xóm, người quen của gia đình khắp nơi đến thăm hỏi. Có người còn chạy tới ôm bé, sờ tay, chân để xem có phải đúng thật là người đã trở về trong câu chuyện cổ tích.

 

 

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •