THOÁI HÓA CỘT SỐNG, VÔI HÓA CỘT SỐNG, GAI CỘT SỐNG, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG.
Thoái hóa cột sống, hư hỏng xương sụn cột sống, vôi hóa cột sống, gai cột sống, thoát vị đĩa đệm là một quá trình tiến triễn của bệnh do thoái hóa gây ra.
Ngày nay do sự phát triễn của xã hội, hoạt động của xcon người ngày càng phong phú, đa dạng, THCS, TVĐĐ lại khởi phát ở độ tuổi lao động. liên quan đến tư thế lao động nghề nghiệp, như ngồi lâu, cúi cổ lâu, động tác lặp đị lặp lại, mang vác nặng liên tục, đòi hỏi sự chịu đựng và thích nghi của cột sống nên tỷ lệ THCS và TVĐĐ ngày càng tăng.
Nguyên nhân gây ra THCS:
Có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do hai quá trình: Là thoái hóa sinh học( lão hóa) và thoái hóa bệnh lý ( do nghề nghiệp,tư thế lao động) thoái hóa sinh học và thoái hóa bệnh lý hai quá trình này đan xen nhau khó phân biệt, trong đó thoái hóa sinh học đóng vai trò chính. Quá trình thoái hóa cột sống ( THCS) tiến triễn tiến triễn theo tuổi ( thoái hóa sinh học) được các yếu tố vi chấn thương và các yếu tố khác thúc đẩy thêm quá trình THCS ( thoái hóa bệnh lý).
+ Thoái hóa sinh học ( lão hóa) theo quy luật:
Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên nó kém, chất lượng sụn giảm dần, tính chất đàn hồi , chịu lực giảm. Hơn nữa tế bào sụn ở người trưởng thành không khả năng sinh sản và tái tạo.
+ Thoái hóa bệnh lý:
Do nhiều yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tác động vào.
Yếu tố vi chấn thương: vi chấn thương là sang chấn tác động vào cột sống không đủ mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, như một số lao động nghề nghiệp, thường xuyên phải đội, vác, gáng nặng, kéo nặng, Tư thế lao động nghề nghiệp như phải ngồi lâu,cúi lâu, đứng lâu, quay đầu nhiều, vặn vẹo cột sống v.v yếu tố vi chấn thương cột sống thức đẩy quá trình thoái hóa đĩa đệm. Các động tác gây đè ép mạnh hoặc văn vẹo cột sống có thể gây ra thoát vị đĩa đệm( TVĐĐ)
Ngoài ra còn do nhiều nguyên nhân khác, như do yếu tố cơ học, di truyền, yếu tố chuyển hóa.
Thoát vị đĩa đệm ( TVĐĐ)
TVĐĐ là hậu quả của thoái hóa cột sống( THCS). Thoái hóa cột sống xẩy ra ở tất cả các thành phần của cột sống, trước hết là ở đĩa đệm, tiếp đến là mặt khớp, thân đốt sống, dây chằng. Nhưng không phải tất cả các trường hợp THCS đều dẫn đến TVĐĐ, cũng không phải đĩa đệm bị thoái hóa càng nặng thì càng dễ gây ra TVĐĐ.
Khi đĩa đệm bị thoái hóa thì nhân nhầy bị thoái hóa đầu tiên, biểu hiện bằng giảm phần nước và Glucoprotein do đó giảm độ căng phồng, giảm tính bền vững của đĩa đệm. Nhân nhầy bị thoái hóa nặng thì vòng sợi bị đè bẹp ra vượt quá giới hạn của thân xương và chiều cao của đĩa đệm bị giảm xuống. Các mâm sụn phải chịu đựng các chấn động liên tục (do hoạt động) cũng sẽ bị thoái hóa và thay thế bằng sợi sụn. Các thân đốt sống liền kề bị xơ hóa các cột xương dẫn đến sự tăng sinh xương thành các gai. Các khớp gian đốt sống và khớp mỏng móc đốt sống cũng bị thoái hóa làm cho các khớp bị phì đại và xuất hiện gai xương. Các gai xương này đều hướng và phía lỗ gian đốt sống, chèn ép vào rễ thần kinh và động mạch đốt sống.
Dây chằng dọc sau ở cạnh chỗ thoát vị, bị thoát vị đẩy tách ra khỏi thân đốt sống, kéo theo màng xương gây ra phản ứng tăng sinh xương và tạo ra các gai xương, và vôi hóa dây chằng. Khi dây chằng bị kéo dãn và vôi hóa dễ đứt rách, tạo điều kiện xảy ra loại thoát vị qua dây chằng dọc sau. Ngoài ra dây chằng vàng cũng bị kéo dãn, giảm khả năng đàn hồi và thoái hóa phì đại gây hẹp ống sống.
Thoái hóa đĩa đệm, thoái hóa dây chằng và thoái hóa đốt sống trong thoái hóa cột sống là những bệnh lý liên quan với nhau gây ra hư hỏng xương sụn, gai cột sống, vôi cột sống và thoát vị đĩa đệm.
- Thoái hóa đĩa đệm, thoái hóa dây chằng và thoái hóa đốt sống, hư hỏng xương sụn, gai cột sống và thoát vị đĩa đệm thường xuất hiện ở cột sống cổ và cột sống đoạn thắt lưng.Gây ra các triệu chứng.
Các triệu chứng đau:
+ Đau cột sống cổ ( CSC): Là đau mỏi thường gặp nhất.
- Đau CSC kèm theo co cứng cơ quanh cổ, giảm cảm giác cứng gáy.
- Đau ê ẩm CSC sau khi ngủ dậy.
- Có đểm đau CSC – thường có xu hướng nghiêng đầu và vai về phía bên không đau để làm dài cổ hơn, giảm đau.
- Hạn chế sự vận động của CSC
+ Triệu chứng rễ thần kinh:
- Đau thần kinh cổ - vai -cánh tay. THCSC,TVĐĐ chèn ép vào các rễ thần kinh, làm đau. Nếu bị chèn ép nặng không được chữa trị đúng kịp thời, để lâu có thể bị teo cơ bại liệt tay.
+ Triệu chứng động mạch:
Do THCSC gây hẹp lỗ động mạch và đè ép động mạch đã làm hạn chế dòng máu trong lòng mạch, do phản ứng của thoái hóa có thể làm xơ các tổ chức xung quanh động mạch và làm hẹp động mạch rễ.
- Đau vùng chẩm từng cơn là do thiếu máu ở động mạch đốt sống – gây thiếu máu cung cấp cho màng não, màng não thiếu máu gây đau đầu vùng nửa chẩm lan ra hốc mắt, hoặc buồn nôn, chóng mặt, ù tai, đau tai, mờ mắt.
+ Triệu chứng tủy:
Nguyên nhân do THCSC – TVĐĐ và gai xương chèn ép tủy.
- Bệnh được khởi phát từ từ biểu hiện dáng đi không vững, cảm giác tê ở thân, sự vụng về của bàn tay và các ngón tay, run tay. Các triệu chứng ngày càng nặng dần có thể liệt và teo cơ rõ dần.
Đau đoạn thắt lưng, hông:
Qua theo dõi thấy 80% đau vùng thắt lưng là do thoái hóa đĩa đệm, gai cột sống và vôi hóa. Nếu do thoái hóa chèn ép vào rễ thần kinh thì đau lan tỏa ra hông, đau xuống bàn mông (đau thần kinh tọa), đau xuống chân, làm cho việc đi lại khó khăn, để lâu có thể liệt chân. Nếu thoái hóa gây chèn ép tủy thì có thể đau cả hai chân nếu năng có thể gây bại liệt phần dưới của cơ thể, hạn chế khả năng đi lại và mất khả năng lao động.
CHỮA TRỊ
Bệnh thoái hóa cột sống, gai cột sống, vôi hóa, TVĐĐ là khá phổ biến. Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học ngành y trong nước và thế giới nghiên cứu chữa trị .
+ Các phương pháp điều trị : Chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị hậu quả. Với các phương pháp điều trị không phẫu thuật, phẫu thuật, điều trị bảo tồn.
- Điều trị không phẩu thuật, điều trị bảo tồn: giảm đau, châm cứa, tập phục hồi chức năng. Kéo dãn để giảm đau.v.v. Phương pháp này chỉ là điều trị hậu quả. Cho nên chỉ giảm đau một thời gian, rồi lại tái phát.
- Phẩu thuật: Phẩu thuật trong điều trị TVĐĐ chủ yếu là cắt bỏ một phần của một bộ phận đĩa đệm. Phần đó gây đau cho các bộ phận khác của cơ thể, làm mất khả năng hoạt động bình thường của bộ phận khác. Sau khi phẩu thuật thì khả năng vận động, lao động giảm.
- Tế bào sụn ở người trưởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo.
- Thoái hóa cột sống, gai cột sống, vôi hóa, TVĐĐ liên tục theo thời gian xẩy ra ở nhiều đốt sống. không thể phẩu thuật nhiều đốt sống.
Người bệnh nên hạn chế chỉ khi các chữa trị khác không kết quả mới phẩu thuật.
Điều trị phục hồi :
Cơ sở khoa học:
Chức năng, vị trí, cấu tạo của đĩa đệm và quá trình thoái hóa - thoát vị đĩa đệm như phần trên đã nói. và theo giáo sư tiến sỹ Hồ Hữu Lương đã viết.
+ Thành phần nguyên tố vi lượng trong đĩa đệm.
- A.V.A vakian (1980) đã xác định được 15 nguyên tố vi lượng của đĩa đệm gồm: calci, phospho, mangan, đồng, sắt, liti, kali,silic,crôm magnesi, nhôm, thiếc, tronti, natri. Một số nguyên tố vi lượng tăng dần theo tuổi như: (canci, photpho, mangan, đồng, sắt), một số giảm dần theo tuổi như : (liti, kali, silic, crom, magnesi, nhôm thiếc)
- Đĩa đệm bệnh nhân bị thoái hóa:
Tăng đồng, nhôm, tronti, titan, silic, mangan, magnesi; giảm sắt, thiếc, crom,phospho nhưng calci, kali, natri, liti không hề thay đổi.
+ Với phương pháp điều trị phục hồi:
Thoái hóa cột sống, gai cột sống, vôi hóa, TVĐĐ đã xẩy ra thì điều trị phục hồi là tốt nhất. tăng cường các chất các nguyên tố vi lượng của đĩa đệm bị giảm, giảm các chất tăng lên làm cho đĩa đệm bị thoái hóa. Phục hồi chức năng của đĩa đệm, làm mềm dần đĩa đệm do vôi hóa, làm mòn các gai xương, giải phóng các chèn ép rế thần kinh, tủy sống và động mạch cột sống.
Các nguyên tố vi lượng để chữa trị được lấy từ một số loại động vật( nguồn gốc tự nhiên) bổ sung vào địa đệm, qua con đường ăn uống. hoàn toàn không có các phản ứng phụ.
Phan Văn Hạnh
Số nhà 9/72 Đào Tấn Tp Huế
Điện thoại: 0905140929