Từ xưa, giới chuyên ngành Đông y, Đông dược đã lưu truyền câu ngạn ngữ: “Nhất vị Đan sâm ẩm, công đồng Tứ vật thang”, nghĩa là chỉ một vị đan sâm cũng có tác dụng ngang với cả bài thuốc Tứ vật (gồm 4 vị thục địa, đương quy, bạch thược và xuyên khung, là bài thuốc “bổ huyết điều huyết” kinh điển của Đông y).

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, đan sâm có tác dụng dược lý khá phong phú:

– Làm giãn và tăng lưu lượng động mạch vành, phòng chống tích cực tình trạng thiếu máu và hoại tử cơ tim, làm chậm nhịp tim.

– Nâng cao sức chịu đựng của tế bào não và cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy.

– Chống đông máu.

– Điều chỉnh rối loạn lipid máu: làm giảm cholesterol và triglycerid; ức chế và làm chậm quá trình hình thành các mảng vữa xơ động mạch.

– Bảo vệ và thúc đẩy sự tái sinh tế bào gan, chống tình trạng loét niêm mạc dạ dày, cải thiện công năng của thận và dự phòng cơn hen tái phát.

– Ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, trực khuẩn E.coli, lỵ và thương hàn.

– Nâng cao sức miễn dịch, chống thương tổn do phóng xạ, thanh trừ và ức chế sự hình thành các gốc tự do, thúc đẩy quá trình liền sẹo vết thương.

– Trấn tĩnh và chống co giật.

Với việc phát hiện các tác dụng trên, hiện Đan sâm và các chế phẩm của nó được y học sử dụng để trị nhiều bệnh như viêm gan, viêm thận, hen, viêm thần kinh ngoại vi do tiểu đường, đau đầu do nguyên nhân mạch máu, ù tai do nguyên nhân thần kinh, mụn nhọt… Đặc biệt, nó được dùng trong các bệnh lý tim mạch như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch máu não, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành, xuất huyết võng mạc, viêm động tĩnh mạch…

(Sưu tầm)