LTS: Người phụ nữ thường vào thời kỳ trước và sau khi tắt kinh xuất hiện một số triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật: đau đầu chóng mặt mất ngủ, ra mồ hôi, nóng trong người hay còn gọi là cơn bốc hỏa, mặt đỏ, bứt rứt trong người, cảm giác chân tay tê hoặc kiến bò ngoài da, hồi hộp hay quên, kinh nguyệt không đều... do nội tiết tố nữ giảm nhiều vì buồng trứng giảm tiết nội tiết tố, số lần rụng trứng giảm dần đến hết... Khắc phục những rối loạn này như thế nào? Để giải đáp câu hỏi này chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây.

Y học cổ truyền cho rằng phụ nữ bắt đầu từ tuổi 42-49 biểu hiện mạch xung nhâm suy, kinh kiệt... ở khoảng tuổi này phụ nữ hết sinh đẻ, chức năng tạng phủ suy dần mà chủ yếu là thận khí suy, tinh huyết suy gây nên âm dương mất cân bằng ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của các tạng phủ khác và là nguyên nhân chính của hội chứng tiền mãn kinh. Ngoài ra các yếu tố tinh thần thể chất, tình hình dinh dưỡng, sinh đẻ, hoàn cảnh sinh hoạt lao động của người phụ nữ đều ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh.





Hạt cây trinh nữ.



Triệu chứng thường gặp

Rối loạn kinh nguyệt: Kinh sớm muộn thất thường, lượng ít hoặc nhiều, có khi rất nhiều hoặc ngừng đột ngột.

Rối loạn thần kinh thực vật: Nóng sốt, bừng bừng đỏ mặt, ra mồ hôi, hoa mắt ù tai, tính tình nóng nảy dễ cáu gắt hoặc lo nghĩ trầm cảm, lưng gối đau mỏi, đau đầu, miệng họng khô nóng, nôn, buồn nôn, hồi hộp mất ngủ hay quên, tư tưởng khó tập trung hoặc chân tay tê rần, cảm giác kiến bò...

Rối loạn chuyển hóa: Cơ thể mập ra hoặc lên cân, phù, tiêu chảy...

Những điều lưu ý

- Phải nhận thức đúng về thời kỳ mãn kinh, tính tình phải vui vẻ khoáng đạt, lạc quan.

- Không được ngồi một chỗ nhiều, nếu sức khỏe còn khá nên chủ động tìm việc để làm như việc nhà, việc xã hội vừa với sức của mình.

- Chú ý giữ vệ sinh thân thể, nhất là vệ sinh bộ phận sinh dục, vì sức đề kháng của âm đạo giảm.

- Nếu âm đạo khô khi sinh hoạt tình dục phải bôi dầu để tăng khoái cảm.

- Nên ăn nhiều món ăn bổ thận an thần như đậu, táo, hạnh đào, hạt sen, thận dê lợn, mật ong, nấm hương...

- Kiêng ăn những thực phẩm gây hưng phấn như ớt, rượu, cà phê, trà đặc.

Phép trị theo Đông y





Sài hồ.



Hội chứng tiền mãn kinh là bệnh nội thương chủ yếu do chức năng của tạng thận suy giảm, âm dương mất cân bằng dẫn tới sự rối loạn chức năng các tạng phủ trong cơ thể do đó phải điều trị toàn diện kết hợp dùng thuốc và không dùng thuốc như xoa bóp dưỡng sinh, khí công thái cực quyền và người bệnh phải chủ động có ý chí tu luyện tinh thần tư tưởng thanh thản (không buồn phiền, không quá lo lắng, không tức giận) mới có kết quả tốt.

Thể thận âm hư

Chứng âm hư nội nhiệt: Kinh nguyệt đến sớm, lượng ít, hoặc đến muộn, ra nhiều hoặc tắt kinh đột ngột, đau đầu, hoa mắt chóng mặt, nóng bừng ra mồ hôi, miệng khô, táo bón, lưng gối nhức mỏi, lưỡi đỏ rêu ít, mạch tế sác.

Phép trị: Tư âm thanh nhiệt.

Bài 1: Sinh thục địa 12g, sơn thù nhục 10g; đơn bì, phục linh, trạch tả, hoàng bá, tri mẫu, địa cốt bì mỗi thứ 12g; sinh long cốt, sinh mẫu lệ, quy bản (sắc trước, mỗi thứ 20g).

Bài 2: Tri mẫu, tiên linh tỳ, nữ trinh tử, hạn liên thảo mỗi thứ 12g; hoàn bách, đương quy, tiên mao mỗi thứ 10g, ngày 1 thang sắc làm 2 lần uống.

Chứng âm hư can vượng: Kinh nguyệt rối loạn, tính tình bứt rứt nóng nảy, dễ cáu gắt, mắt khô, chóng mặt nhức đầu, ngực sườn đau tức, chân tay run, tê rần hoặc có cảm giác kiến bò, lưỡi ria đỏ, mạch huyền sác.

Phép trị: Tư thận bình can tiệm dương.

Bài 1: Sinh địa 16g; hoài sơn, sơn thù, đơn bì, bạch linh, trạch tả, kỷ tử mỗi thứ 12g; cúc hoa 10g, bạch thược 20g, sài hồ (sao giấm), hạ khô thảo đều 12g, câu đằng 10g; nếu mất ngủ gia sao táo nhân, bá tử nhân, dạ giao đằng.

Bài 2: Sinh địa, bạch thược, nữ trinh tử mỗi thứ 12g; bạch cúc, hoàng linh, táo nhân mỗi thứ 9g, sinh long mẫu 30g, mỗi ngày 1 thang, sắc làm 2 lần uống.

Chứng tâm thận bất giao: Rối loạn kinh nguyệt, người nóng ra mồ hôi, hồi hộp, hay quên mất ngủ, hay mơ, tư tưởng không tập trung, hay buồn vô cớ, lưỡi thon đỏ, ít rêu.

Phép trị: Tư âm giáng hỏa thông tâm thận.

Bài thuốc: Sinh địa thục địa, đơn bì, phục thần, bạch linh, bạch thược, mạch môn mỗi thứ 12g, ngũ vị tử 4g, viễn chí 4g, thạch xương bồ 12g, sao táo nhân 20g, hoàng liên 4g, cam thảo, đại táo 3 quả.

Thể thận dương hư: Kinh nguyệt ra nhiều hoặc đến sớm, người mập, chân tay mát lạnh, sợ lạnh, mệt mỏi hoặc phù, tiểu trong, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm nhược.

Phép trị: Ôn bổ thận dương.

Bài 1: Thục địa, hoài sơn, sơn thù, đơn bì, bạch linh, trạch tả mỗi thứ 12g, phụ tử chế, quế nhục mỗi thứ 4g, nếu mệt mỏi ăn kém gia đảng sâm, bạch truật mỗi thứ 10g; nếu ngủ ít gia táo nhân 20g, bá tử nhân 10g; nếu chân phù gia sa tiền tử 12g, trư linh 12g, bạch mao căn 12g; kinh nguyệt kéo dài cho uống thêm sâm tam thất bột 1-2g, hòa thuốc hoặc a giao 6g hòa thuốc uống.

Bài 2: Đảng sâm, hoàng kỳ, thục địa mỗi thứ 20g; chế hương phụ, đương quy mỗi thứ 12g; sơn thù du, bột ngao, a giao sao vàng, than kinh giới mỗi thứ 10g, bạch truật sao 15g, cam thảo 3g, than mộc nhĩ đen 6g, than quán trung 5g, mỗi ngày 1 thang, sắc uống 2 lần.

Thể thận âm hư: Phụ nữ sắp hết kinh, người mập lên cân, tinh thần mệt mỏi bứt rứt, chân tay nặng nề hoặc tê dại, đầu nặng ngực đau, hồi hộp mất ngủ, lưỡi bệu rêu dày, mạch trầm hoạt.

Phép trị: Hoạt huyết trừ đờm.

Bài thuốc: Đương quy, sinh địa, đào nhân, sài hồ, xích thược, xuyên ngưu tất mỗi thứ 12g; xuyên khung, hồng hoa, chỉ xác, sơn tra, trúc nhự mỗi thứ 10g, sinh hoàng kỳ 30g, bạch linh 12g, trần bì 10g, cam thảo 3g sắc uống.






Theo SK & ĐS
Bacsi.com