Bệnh thiếu máu rất nguy hiểm đó. Nhìn một người trông rất mệt mỏi và khỏe mạnh nhưng cũng có khả năng bị thiếu máu nữa, đặc biệt là ở phụ nữ. Các bạn nên uống thêm viên sắt có bán ở tất cả các hiệu thuốc.
Thiếu máu là một bệnh thái không có đủ các hồng cầu khỏe mạnh để chuyên chở đủ ôxy cho mô, khiến bạn cảm thấy mệt nhọc.
Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu, có thể do thiếu sắt, thiếu vitamin, mất máu, bệnh mạn tính hay bệnh mắc phải, cũng có thể là do tác dụng phụ của một loại thuốc… Thiếu máu có thể tạm thời hay lâu dài, có thể từ nhẹ đến nặng.
Thiếu máu cũng có thể là dấu hiệu của những bệnh nặng như ung thư hay bệnh thận.
Dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng chủ yếu của thiếu máu là mệt mỏi, ngoài ra bạn có thể gặp những dấu hiệu sau:
* Yếu sức
* Da nhợt nhạt; môi, lợi, móng tay và bàn tay giảm sắc hồng
* Tim đập nhanh
* Thở ngắn
* Đau ngực
* Choáng váng
* Hay kích ứng
* Chân tay tê và lạnh
* Đau đầu
Ban đầu thiếu máu có thể nhẹ nên không gây chú ý. Các dấu hiệu và triệu chứng tăng lên khi bệnh tiến triển.
Yếu tố nguy cơ
Các yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ thiếu máu:
* Chế độ ăn nghèo nàn: thường xuyên ít sắt và các vitamin, nhất là folat.
* Rối loạn đường ruột, cắt bỏ hoặc phẫu thuật phần ruột non nơi hấp thu chất dinh dưỡng có thể dẫn tới thiếu hụt chất dinh dưỡng và thiếu máu.
* Kinh nguyệt. Phụ nữ có nhiều nguy cơ thiếu máu thiếu sắt hơn nam giới do bị mất máu kèm mất sắt hàng tháng trong kì kinh.
* Thai nghén.
* Các bệnh mạn tính: ung thư, suy thận, suy gan…
* Tiền sử gia đình.
* Một vài bệnh nhiễm khuẩn, bệnh máu, rối loạn miễn dịch, phơi nhiễm hóa chất độc và sử dụng các thuốc có thể tác động xấu đến việc sản xuất hồng cầu và dẫn tới thiếu máu.
* Bệnh nhân đái tháo đường, người nghiện rượu, người ăn chay nghiêm ngặt,…
Điều trị
Điều trị thiếu máu tùy thuộc vào nguyên nhân:
* Thiếu máu thiếu sắt: cần bổ sung sắt.
* Thiếu máu thiếu vitamin: Thiếu máu ác tính được điều trị tiêm vitamin B12. Thiếu máu thiếu acid folic sẽ được bổ sung acid folic.
* Thiếu máu ở bệnh mạn tính: Tập trung điều trị bệnh nền tiềm ẩn. Nếu các triệu chứng trở nặng thì truyền máu hay tiêm erythropoietin tổng hợp,…
* Thiếu máu bất sản: Truyền máu để tăng lượng hồng cầu, có thể cần ghép tủy xương hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch.
* Thiếu máu liên quan đến tủy xương: Điều trị từ thuốc đơn giản cho đến hóa trị liệu rồi đến ghép tủy xương.
* Thiếu máu tan máu: Tránh dùng các thuốc nghi ngờ có liên quan đến thiếu máu, điều trị các nhiễm khuẩn liên quan, dùng thuốc ức chế hệ miễn dịch có thể đang tấn công các tế bào hồng cầu. Nếu bệnh gây sưng lách thì có thể cắt bỏ lách.
* Thiếu máu tế bào liềm: Dùng ôxy, thuốc giảm đau, các dịch uống và truyền tĩnh mạch để giảm đau và ngăn ngừa biến chứng. Có thể truyền máu, bổ sung acid folic, thuốc kháng sinh, ghép tủy xương.
Phòng ngừa
Nhiều kiểu thiếu máu không phòng ngừa được. Tuy nhiên, có thể phòng tránh thiếu máu thiếu sắt và thiếu máu thiếu vitamin bằng cách dùng chế độ ăn lành mạnh, luôn thay đổi, chứa các thực phẩm giàu sắt, folat và vitamin B12.
Nguồn sắt tốt nhất là thịt bò, thịt lợn và thịt cừu. Các thực phẩm khác giàu sắt là đậu đỗ, ngũ cốc, lúa mì toàn hạt và mì sợi, rau lá xanh thẫm, trái cây khô, hạt quả hạch và các loại hột. Có thể gặp folat và các dạng tổng hợp của nó, acid folic trong dịch quả chanh, rau và quả tươi, thịt, sản phẩm từ sữa, hạt ngũ cốc và đỗ. Thịt và các sản phẩm từ sữa đều nhiều vitamin B12. Thực phẩm chứa vitamin C giúp tăng hấp thu sắt.
Nguồn: thanhnien
BACSI.com
Bệnh thiếu máu rất nguy hiểm đó. Nhìn một người trông rất mệt mỏi và khỏe mạnh nhưng cũng có khả năng bị thiếu máu nữa, đặc biệt là ở phụ nữ. Các bạn nên uống thêm viên sắt có bán ở tất cả các hiệu thuốc.
các thuốc trị thiếu máu:
sắt
Sắt hàng ngày cung cấp cho cơ thể chủ yếu từ thức ăn như gan, tim, trứng, thịt nạc, hoa quả. Cơ thể người trưởng thành chứa 3 - 5g sắt, có trong hồng cầu, cơ, một số enzym và dự trữ trong một số cơ quan như gan, lách, tủy xương... Ở người bình thường, nhu cầu sắt khoảng 0,5 - 1mg trong 24 giờ, nhưng tăng lên gấp đôi ở phụ nữ khi hành kinh và tăng lên 5 - 6 lần ở phụ nữ mang thai.
Sắt từ thức ăn (dạng ion sắt 2 hoặc sắt 3) khi vào dạ dày thì ion sắt 2 được dễ dàng hấp thu qua niêm mạc dạ dày, còn ion sắt 3 sẽ kết hợp với albumin ở niêm mạc đường tiêu hóa nên không hấp thu được, muốn hấp thu được nó phải chuyển thành sắt 2 dưới tác dụng của acid clo hydric và sự xúc tác của vitamin C, chính vì vậy các dạng thuốc sắt luôn được sản xuất ở loại có hóa trị 2.
Có rất nhiều nguyên nhân có thể làm cơ thể thiếu sắt, trong đó đáng chú ý là các nguyên nhân dẫn đến kém hấp thu sắt như viêm dạ dày mạn tính, lao dạ dày, sau cắt đoạn dạ dày, tiêu chảy mạn, trĩ, ung thư... hoặc do nhiễm giun, do tăng nhu cầu sử dụng sắt ở phụ nữ có thai, ở tuổi dậy thì.
Chính vì vậy thuốc được chỉ định sử dụng trong các trường hợp sau cắt đoạn dạ dày, viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm ruột mạn tính, rong kinh, trĩ, nhiễm giun móc, phụ nữ mang thai hoặc thời kỳ cho con bú.
Tuy nhiên cần chú ý, khi dùng đường uống thuốc có thể gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa dẫn đến tình trạng lợm giọng, buồn nôn, táo bón... khi dùng đường tiêm có thể gây nhức đầu, buồn nôn, sốt và đặc biệt khi dùng quá liều có thể gây tử vong.
Thuốc không được dùng cho người mẫn cảm, người bị thiếu máu do tan máu; trẻ em dưới 12 tuổi hoặc người già không được dùng dạng viên mà chỉ được sử dụng dạng siro.
Vitamin B12
Đây là tên chung chỉ các cobalamin hoạt động trong cơ thể như cyanocobalamin, hydroxocobalamin... chúng có chủ yếu trong động vật như thịt, cá, trứng, gan... Ngoài ra, trong cơ thể người được tổng hợp một lượng nhỏ nhờ một số vi khuẩn ở ruột.
Vitamin B12 được hấp thu qua đường máu hoặc qua đường tiêm, trong đó đáng chú ý là muốn hấp thu được qua đường tiêm thì cần phải có một yếu tố nội của cơ thể (là một glycoprotein do tế bào niêm mạc dạ dày tiết ra). Chính vì vậy ở người bị viêm loét dạ dày mạn tính dễ dẫn đến thiếu vitamin B12. Vào cơ thể chúng được tích trữ nhiều ở gan, thần kinh trung ương, tim và nhau thai; thải trừ nhanh qua thận.
Các cobalamin đóng vai trò quan trọng là các coenzym đồng vận chuyển tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng, trong đó đáng chú ý là quá trình chuyển hóa acid folic và tổng hợp ADN nên rất cần cho sự tổng hợp sinh hồng cầu. Ngoài ra còn tham gia vào quá trình chuyển hóa lipid và hoạt động bình thường của hệ thần kinh.
Khi thiếu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu hồng cầu to, viêm đa dây thần kinh, rối loạn cảm giác, rối loạn vận động khu trú ở chân. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu vitamin B12 như trong bệnh Biermer, sau cắt đoạn dạ dày ruột, hội chứng kém hấp thu, xơ gan, viêm gan mạn, phụ nữ có thai hoặc sau dùng một số thuốc như neomycin, sodanton... Do vậy, thuốc được chỉ định dùng trong các trường hợp thiếu máu, nhất là thiếu máu hồng cầu to, viêm và đau dây thần kinh, dự phòng thiếu máu ở người bị cắt dạ dày hoặc viêm ruột mạn. Ngoài ra có thể kết hợp với các vitamin khác trong các trường hợp cơ thể suy nhược, suy dinh dưỡng, phụ nữ có thai, cho con bú. Chú ý thuốc không được dùng cho người bệnh ung thư, người mẫn cảm với thuốc.
Acid folic
Cơ thể không có khả năng tổng hợp acid folic, nguồn cung cấp chủ yếu là từ thức ăn, có nhiều trong thịt, cá, gan, trứng và rau quả tươi nhưng rất dễ bị phân hủy trong quá trình chế biến. Trong cơ thể, sau khi bị chuyển hóa sẽ trở thành chất đóng vai trò rất quan trọng cho rất nhiều quá trình chuyển hóa khác trong cơ thể, trong đó đáng chú ý là acid folic là chất không thể thiếu cho việc tạo hồng cầu bình thường. Nguyên nhân gây thiếu acid folic cũng cơ bản giống như nguyên nhân thiếu vitamin B12, vì vậy hai nguyên nhân này thường gặp đồng thời trên một bệnh nhân. Khi thiếu sẽ dẫn đến thiếu máu hồng cầu khổng lồ. Vì vậy, thuốc được sử dụng để phòng và điều trị các trường hợp thiếu máu, nhất là thiếu máu hồng cầu to.
Ngoài 3 chất quan trọng ở trên còn rất nhiều chất khác có thể dùng trong điều trị thiếu máu như erythropoietin, đồng, vitamin B6... và cách tốt nhất, chừng nào còn có thể thì nên ăn uống điều độ, đầy đủ chất dinh dưỡng, rau xanh và khoáng chất.