Thuốc được phân làm hai loại: loại bán theo đơn của bác sĩ và loại bán không cần đơn. Cả hai loại thuốc đều là sản phẩm đặc biệt đòi hỏi sử dụng đúng để đạt hiệu quả và an toàn.


Đọc kỹ tờ hướng dẫn kèm theo thuốc -Ảnh: N.C.T.

Đối với thuốc bán theo đơn, ta có thể thu nhận thông tin qua đơn thuốc bác sĩ sau khi khám đã chỉ định và có những dặn dò cần thiết. Đối với thuốc bán không cần đơn - người bệnh có thể tự mua dùng để chữa các bệnh thông thường như cảm sốt, ho, đau nhức nhẹ, tiêu chảy, táo bón, khó tiêu - ta nên hỏi dược sĩ tại nhà thuốc những điều cần biết về thuốc. Nhưng nếu có và tốt nhất cho cả hai trường hợp nêu trên là nên đọc kỹ tờ hướng dẫn kèm theo thuốc.

Có câu nói từ xưa nhấn mạnh vai trò thông tin là “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, có thể vận dụng vào lĩnh vực y dược để cho rằng “Biết thuốc biết ta, trăm trận trăm thắng” trong cuộc chiến chống lại bệnh tật. Biết thuốc ở đây là hiểu biết về thuốc thông qua tờ hướng dẫn dùng thuốc, nếu được như vậy mới đánh đâu thắng đấy tức chữa được bệnh.

Tờ hướng dẫn của các thuốc mới đưa ra thị trường thường ghi đầy đủ các đề mục, dài và nhiều chữ. Một số ghi đơn giản và vắn tắt hơn. Ta đọc kỹ các phần sau:

Thành phần. Ghi tên hoạt chất hay còn gọi là dược chất và các tá dược. Thí dụ thuốc có biệt dược là Zentel hoặc Albendazol trong thành phần ghi dược chất chính là albendazol là thuốc trị giun sán và thêm khá nhiều tá dược để tạo thành thuốc viên nén.

Cần biết tên dược chất vì đây chính là tên thuốc dùng cho việc điều trị. Đã có nhiều trường hợp bà mẹ cho con uống nhiều thuốc tưởng là khác nhau, nhưng chỉ chứa một dược chất hạ sốt là paracetamol đưa đến trẻ bị ngộ độc thuốc rất đáng tiếc.

Chỉ định.
Là phần ghi những trường hợp dùng thuốc. Có thể ghi trường hợp bệnh (điều trị cơn cao huyết áp) hoặc ghi trị tác nhân bệnh (trị giun đũa, giun kim, giun móc), hoặc dùng để dự phòng (dự phòng cơn đau thắt ngực). Cần đọc phần này để xem thuốc sẽ dùng có phù hợp với bệnh đang được điều trị hay không.

Cách dùng-liều dùng. Ghi cách dùng thuốc như thế nào như ngậm dưới lưỡi, uống hoặc tiêm bắp, tĩnh mạch... Còn liều được ghi: liều dùng cho một lần, liều trong 24 giờ (tức trong một ngày), liều cho một đợt điều trị. Thí dụ thuốc được ghi: 500mg x 3 lần/ngày, trong 10 ngày, có nghĩa là mỗi lần dùng 500mg thuốc (thường là uống 1 viên chứa 500mg hoạt chất), dùng ba lần trong ngày, dùng trong 10 ngày liên tiếp.

Chống chỉ định. Là phần ghi những trường hợp không được dùng thuốc. Thường ghi một số đối tượng như phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em dưới 15 tuổi, người bị suy gan, suy thận, người bị mẫn cảm dị ứng với bất cứ chất nào trong thành phần của thuốc… hoặc trường hợp nhược cơ, hôn mê gan, loét dạ dày tiến triển…

Nếu trong phần này chỉ ghi chống chỉ định phải hiểu là chống chỉ định tuyệt đối, tức là không vì lý do nào đó trường hợp chống chỉ định lại linh động được dùng thuốc. Thí dụ: thuốc được ghi chống chỉ định đối với trẻ dưới 15 tuổi, ta phải tuyệt đối theo đúng điều này, đừng vì thấy trẻ 13-14 tuổi lớn con có vẻ già dặn lại cho dùng.

Lưu ý thận trọng.
Là thành phần ghi những điều cần lưu ý, thí dụ có thuốc ghi trong thời gian dùng phải theo dõi chức năng gan, hoặc thuốc không được tiêm bắp mà phải tiêm tĩnh mạch chậm…

Phần lưu ý-thận trọng có thể được xem là chống chỉ định tương đối. Có nghĩa là vì thận trọng có những trường hợp không được dùng thuốc nhưng không cấm hoàn toàn. Thí dụ: thuốc được ghi “Người lái xe hay vận hành máy móc cần thận trọng khi sử dụng do thuốc có thể gây buồn ngủ ngầy ngật”, ta nên hiểu người lái xe hay vận hành máy móc nên tránh dùng thuốc, còn không làm việc vẫn có thể dùng; hoặc thuốc được ghi “thận trọng khi chỉ định cho trẻ dưới 2 tuổi”, nghĩa là tốt nhất nên tránh dùng cho trẻ dưới 2 tuổi nhưng vì sự cần thiết, bác sĩ vẫn có thể chỉ định thuốc cho trẻ và theo dõi kỹ.

Tác dụng phụ (hoặc tác dụng ngoại ý). Là phần ghi những tác dụng không phải dùng trong điều trị, xảy ra ngoài ý muốn. Thí dụ, một số thuốc dùng trong bệnh lý tim mạch uống vào gây ho khan. hoặc có thuốc làm phân có màu đen, nước tiểu có màu vàng, xanh, đỏ… Một số tác dụng phụ của thuốc thường gặp: đau bụng vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt... thường các tác dụng phụ này sẽ mất đi khi ngưng dùng thuốc.

Tương tác thuốc. Là phần ghi thuốc nếu dùng cùng lúc với một số thuốc khác sẽ bị các phản ứng bất lợi. Thí dụ, thuốc aspirin nếu dùng chung với các thuốc giảm đau chống viêm giống như nó (được gọi là các thuốc chống viêm không steroid) sẽ đưa đến tương tác thuốc làm tổn hại niêm mạc dạ dày (hại bao tử) hơn, hay aspirin nếu dùng chung với thuốc chống đông như coumarin sẽ gây xuất huyết.

Trong tờ hướng dẫn không ghi hạn dùng. Tuy nhiên người sử dụng thuốc cần xem kỹ hạn dùng được ghi trên bao bì (nhãn thuốc, vỉ thuốc hoặc hộp giấy đựng lọ thuốc). Hạn dùng được định nghĩa là “khoảng thời gian sử dụng được ấn định cho một lô thuốc (thuốc được sản xuất theo lô), mà sau thời hạn này thuốc đó không còn giá trị sử dụng”. Như vậy nếu đọc trên nhãn thuốc hoặc bao bì: HD (hoặc Exp.Date): 30-6-2009, nghĩa là trong suốt thời gian từ lúc thuốc xuất xưởng đến hết ngày 30-6-2009 thuốc có giá trị sử dụng, đến ngày 1-7-2009 thuốc quá hạn sử dụng. Nếu thuốc quá hạn dùng phải bỏ đi, không được sử dụng.