Thai ngoài tử cung là bệnh lý thường gặp nhất trong thực hành sản phụ khoa. Tỷ lệ bệnh có thể gặp từ 1 – 2% so với số sanh và ngày càng gia tăng theo đà nạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.



Tỷ lệ bệnh có thể gặp từ 1 – 2% (google image)

Số liệu tại bệnh viện Hùng Vương TP.HCM cho thấy hàng năm có 700 – 800 trường hợp thai ngoài tử cung phải nhập viện điều trị so với số sanh xấp xỉ 30.000 trường hợp.

Vì sao thai đi lạc?

Thai ngoài tử cung là tình trạng có thai, nhưng khối thai lại không phát triển trong lòng tử cung như bình thường. Nguyên nhân có thể do vòi trứng bị tắc nghẽn vì viêm nhiễm hay do rối loạn nội tiết làm trứng di chuyển chậm trễ, dẫn đến sự đình trệ di chuyển của trứng đã thụ tinh từ buồng trứng về lòng tử cung. Nạo phá thai nhiều lần, bệnh lây qua đường tình dục có thể làm gia tăng tình trạng viêm nhiễm vòi trứng hay trong ổ bụng, làm gia tăng khả năng thai ngoài tử cung.

Các vị trí có thể gặp là vòi trứng, buồng trứng, trong ổ bụng, cổ tử cung, trên vết mổ thành tử cung. Trong đó, vòi trứng là nơi thường gặp nhất. Thai đóng ở chỗ nối của vòi trứng và tử cung, gọi là thai đoạn kẽ (còn có tên thai sừng, thai góc…), rất nguy hiểm vì có thể gây vỡ sớm hơn, chảy máu nhiều và nhanh hơn, khó chẩn đoán và sau khi xử trí, nhiều khả năng không có thai lại được sau này. Thai ở ổ bụng là tình trạng thai đóng hẳn trong ổ bụng, có thể trên màng bụng, trên các màng treo của ruột, trên gan hay ruột; cũng có khi là thai ở vòi trứng rồi tự sảy ra ổ bụng và phát triển tại đây.

Thai trong ổ bụng rất hiếm gặp, có thể phát triển lâu hơn, khó chẩn đoán hơn, tuy nhiên khi có tình trạng vỡ thì trầm trọng hơn nhiều. Y văn thế giới đã ghi nhận có trường hợp hiếm hoi thai trong ổ bụng sống được; tại TP.HCM, cách đây khoảng chục năm, từng có trường hợp thai tám tháng trong ổ bụng, đã mổ và cứu sống được cả mẹ và con.

Tình trạng phụ khoa nguy hiểm

Thai ngoài tử cung, dù ở vị trí nào, cũng không thể lớn cho tới khi đủ tuổi ra đời và sống được. Thai ở vòi trứng thường sẽ vỡ vào khoảng 7 – 8 tuần trở đi, do vòi trứng không chịu nổi kích thước khối thai.

Trước đó, vòi trứng đã bị căng dãn liên tục, gây ra tình trạng đau thường xuyên một bên vùng hố chậu, không giảm với các thuốc giảm đau (hay chỉ giảm tạm thời). Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể bị ra máu âm đạo bất thường, máu ra ít, đen sậm, dây dưa.

Khi có tình trạng vỡ vòi trứng gây chảy máu trong ổ bụng, sẽ có cơn đau dữ dội kèm theo mệt lả người, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ đưa đến choáng do mất máu. Thai ngoài tử cung khi đóng ở các vị trí khác, cũng sẽ đưa đến tình trạng vỡ khối thai vào một thời điểm nhất định.

Thai ngoài tử cung là tình trạng phụ khoa nguy hiểm, đây là cảnh giác thường trực của bác sĩ khi gặp phụ nữ mang thai ba tháng đầu mà kèm đau bụng hay ra máu bất thường.

Điều trị nội khoa thành công trên 80%

Chẩn đoán thai ngoài tử cung khi đã vỡ, đã choáng mất máu không khó, nhưng xử trí sẽ tốn kém và ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ cũng như khả năng mang thai.

Chẩn đoán thai ngoài tử cung ở giai đoạn sớm, nhiều khi cũng không dễ, cần thời gian và xét nghiệm nhiều lần, đôi khi làm bệnh nhân bực mình và tốn kém, nhưng lại giúp ích cho việc bảo tồn khả năng mang thai. Ngày nay, siêu âm phát triển đã giúp ích nhiều cho chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung, giúp ích cho việc điều trị hiệu quả và ít ảnh hưởng sức khoẻ phụ nữ hơn.

Với nồng độ nội tiết thai kỳ (beta HCG) trên 1.500 (test nước tiểu cho kết quả dương tính khi beta HCG >25), túi thai trong lòng tử cung đã phải thấy được. Do vậy, khi không thấy túi thai trong lòng tử cung qua siêu âm, kèm theo đau hay ra máu bất thường, bệnh nhân sẽ được đề nghị thử máu để xác định nồng độ beta HCG. Điều trị có nhiều cách, và bác sĩ luôn muốn chọn cách tốt nhất cho bệnh nhân:

Phẫu thuật: với phẫu thuật nội soi hiện nay, sẽ giúp vết thương lành tốt hơn, giảm khả năng dính ruột sau mổ, khả năng hồi phục nhanh hơn, cũng như dễ thực hiện các thao tác bảo tồn vòi trứng. Tuy nhiên, khi bệnh nhân đến quá trễ, khối thai đã vỡ gây chảy máu nhiều trong ổ bụng, dù mổ bụng hở hay nội soi, khó có khả năng giữ lại vòi trứng.

Điều trị nội khoa với Methotrexate: đã được xem là phương pháp điều trị hữu hiệu và áp dụng phổ biến nhất. Sử dụng Methotrexate đồng nghĩa với làm ngăn cản quá trình sửa chữa và tái tạo ADN, nghĩa là sẽ không có sự phát triển và sinh sôi của tế bào. Các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng Methotrexate gồm ức chế tuỷ xương (làm giảm bạch cầu, tức giảm khả năng chống đỡ bệnh tật), viêm dạ dày (nôn, buồn nôn, đau thượng vị), ảnh hưởng chức năng gan – thận. Do đó, khi bệnh nhân có tình trạng bệnh lý gan, thận hay huyết học thường không sử dụng điều trị nội khoa, mặc dù, liều thấp dùng trong thai ngoài tử cung hầu như không làm xuất hiện tác dụng phụ.

Thành công của điều trị nội khoa có thể đạt trên 80%, tỷ lệ tái phát thai ngoài tử cung trên vòi trứng được giữ lại cũng thấp hơn trong trường hợp mổ bảo tồn vòi trứng. Tuy nhiên, khi điều trị nội khoa, bệnh nhân và gia đình cần hiểu rõ tiến trình lui bệnh, khả năng điều trị thất bại phải chuyển sang phẫu thuật, thậm chí là phẫu thuật cấp cứu, cần có sự kiên nhẫn trong theo dõi và tái khám với các xét nghiệm máu, siêu âm được thực hiện nhiều lần.

Nguồn: bau.vn
BACSI.com